Friday, 24 July 2015

Chỉ thị 05/CT-NHNN về kiểm soát rủi ro tín dụng cho dự án giao thông - Liều thuốc chưa đủ mạnh (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 25/7/2015)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=354669

Trong khi các NHTM tài trợ một nguồn vốn khá lớn cho các dự án hạ tầng giao thông thì Chỉ thị 05 có ý nghĩa như một hành động thể hiện cam kết của NHNN trước Chính phủ về việc bảo đảm tín dụng phát triển lành mạnh, hơn là một chương trình hành động cụ thể, hữu hiệu với những tác động đáng kể đến công tác tín dụng nói chung và tín dụng cho các dự án giao thông nói riêng.
 
Ngày 15.7, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-NHNN về việc tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng đối với các dự án giao thông theo mô hình BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) hoặc BT (xây dựng - chuyển giao).
 
Bối cảnh ra đời của Chỉ thị 05, theo NHNN là do việc nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) đã tài trợ một nguồn vốn lớn cho các dự án hạ tầng giao thông và xu hướng này đang có chiều hướng gia tăng. Trong khi đó, việc cấp tín dụng này còn có một số bất cập, chưa đánh giá đủ các rủi ro có liên quan. Bên cạnh đó, Chính phủ đã giao NHNN thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với bảo đảm cơ cấu tín dụng phù hợp, trong đó tập trung tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, giám sát chặt chẽ khi cho vay các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro (bất động sản, các dự án thu hồi vốn trong thời gian dài). Do đó, để bảo đảm tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, bền vững theo đúng mục tiêu đã đề ra, giảm thiểu rủi ro trong việc cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông, đặc biệt các dự án có thời gian thu hồi vốn dài, NHNN yêu cầu các đơn vị thuộc cơ quan mình và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài triển khai các công việc liên quan định hướng trên.

Nhận xét đầu tiên về Chỉ thị 05 là phạm vi đề cập đến các dự án giao thông. Các hình thức dự án giao thông không chỉ có BOT và BT mà còn có các hình thức khác như BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành), BOO (xây dựng - sở hữu - vận hành), BTL (xây dựng - thuê vận hành - chuyển giao). Không hiểu vì lý do gì mà NHNN chỉ đề cập đến BOT và BT trong Chỉ thị 05. Có thể lý giải là BOT và BT là hai hình thức dự án phổ biến nhất và đang chiếm đa số trong dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng cấp cho các dự án xây dựng giao thông. Thế nhưng nếu chỉ giới hạn ở hai hình thức này thì chắc chắn các dự án dưới hình thức như BTO, BOO, BTL và BLT (tuy có ít trong hiện tại nhưng sẽ gia tăng trong tương lai) dù có thể có nhiều rủi ro nhưng vẫn được các ngân hàng thương mại cho vay vì đơn giản nó nằm ngoài phạm vi của Chỉ thị 05. Và cũng phải kể thêm một khả năng là các chủ dự án và các ngân hàng thương mại sẽ “lách” Chỉ thị 05 sang các hình thức nói trên để không bị NHNN “soi” việc cho vay của mình cho các dự án này nữa.
 
Thứ hai, về cách thức triển khai Chỉ thị 05, NHNN yêu cầu các đơn vị thuộc hệ thống kiểm soát chặt chẽ tình hình tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng, đặc biệt đối với các dự án BOT, BT giao thông, cung cấp thông tin và kịp thời cảnh báo cho các tổ chức tín dụng về những rủi ro phát sinh. Tăng cường quản lý, giám sát, thanh tra việc chấp hành các quy định về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Giám sát thường xuyên diễn biến hoạt động ngân hàng để phát hiện các vi phạm. Giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tín dụng trong cho vay các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là các dự án BOT, BT giao thông có thời gian thu hồi vốn kéo dài.
 
Những biện pháp giám sát chủ yếu mang tính định tính trên tuy cũng cần thiết nhưng xem ra không đủ. Chắc chắn khi lập dự án vay vốn thì các chủ dự án bao giờ cũng cố gắng đưa vào những căn cứ và giải trình hết sức thuyết phục để làm đẹp dự án của mình. Về phía NHTM, khi đã quyết định cho vay họ cũng sẽ chuẩn bị và trưng ra khi bị yêu cầu những báo cáo đánh giá tín dụng nội bộ làm nổi bật lên tính khả thi của dự án cũng như khả năng thu hồi vốn cho vay của chủ dự án.
 
Bởi vậy, từ góc độ quản lý ngành, các đơn vị thuộc NHNN tuy có tăng cường giám sát, kiểm soát thì cũng không thể hạn chế tín dụng tăng mạnh cho các dự án giao thông, đơn giản vì không có lý do gì để ngăn các NHTM cho vay các dự án được coi là “tốt”. NHNN chỉ có thể kiểm soát một cách hữu hiệu hơn dòng tín dụng đổ vào lĩnh vực giao thông khi họ áp đặt thêm các hạn chế định lượng cho lĩnh vực này cũng giống như đã từng làm cho các lĩnh vực như chứng khoán, bất động sản, trái phiếu Chính phủ... Chẳng hạn, NHNN đặt giới hạn tỷ trọng tín dụng của các NHTM cấp cho các dự án giao thông không quá 10% tổng tài sản hoặc tổng dư nợ của mỗi ngân hàng.
 
Nếu còn băn khoăn rằng áp đặt giới hạn đồng nhất cho các ngân hàng sẽ trói tay nhiều ngân hàng có thế mạnh và kinh nghiệm trong dự án giao thông thì NHNN có thể xem xét tiếp biện pháp quy định giới hạn cho vay dự án giao thông cho từng ngân hàng thương mại dựa trên tiềm lực và kinh nghiệm của từng ngân hàng.
 
Thứ ba, NHNN đã giao chỉ tiêu hạn mức tín dụng cho từng ngân hàng trong năm. Nếu phối hợp thêm với quy định giới hạn định lượng tín dụng của mỗi NHTM được cấp cho các dự án giao thông như nói trên, và điều kiện nữa là NHNN kiên quyết không cho phép các NHTM vượt chỉ tiêu hạn mức tín dụng tổng thể và hạn mức tín dụng được phép cấp cho lĩnh vực giao thông ở mỗi NHTM, thì có thể nói NHNN đã loại bỏ được phần lớn rủi ro về việc các NHTM cho vay quá hạn mức vào các dự án giao thông.
 
Tóm lại, chỉ với ba điều trên có thể thấy rằng, Chỉ thị 05 có ý nghĩa như một hành động thể hiện cam kết của NHNN trước Chính phủ về việc bảo đảm tín dụng phát triển lành mạnh, hơn là một chương trình hành động cụ thể, hữu hiệu với những tác động đáng kể đến công tác tín dụng (theo hướng siết chặt lại) nói chung và tín dụng cho các dự án giao thông nói riêng.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).