Saturday, 25 July 2015

Tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ kèm rủi ro (Bài đăng trên TBKTSG, 25/7/2015)

http://www.thesaigontimes.vn/133323/Tang-chi-tieu-tang-truong-tin-dung-se-kem-rui-ro.html

(TBKTSG) - Mới đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết định cho 18 ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm nay. Trong đó, có ngân hàng được mức tăng trưởng tín dụng cao nhất tới 36%.

Những quan điểm trái chiều
 
Quyết định mới này của NHNN đã tạo ra những quan điểm trái chiều.
Nhìn một phần từ kinh nghiệm của nền kinh tế Việt Nam trải qua một thời gian dài tăng trưởng nóng rồi lạnh mấy năm qua, nhiều người lo ngại rằng với tốc độ tăng trưởng tín dụng dự kiến tăng vọt trong năm nay, một lượng tiền khổng lồ sẽ được bơm vào nền kinh tế.

Trong khi tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế thực chỉ ở mức có hạn và không thay đổi mang tính nhảy vọt so với trước đây thì gia tăng thái quá tín dụng sẽ làm nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, đẩy giá trị các tài sản như bất động sản, chứng khoán tăng theo kiểu bong bóng, và tiêu dùng cũng nhảy vọt nhờ phần lớn được tài trợ một cách dễ dãi bởi tiền đi vay ngân hàng và/hoặc các công ty tài chính. Kết quả cuối cùng không tránh khỏi sẽ là bong bóng giá các tài sản một ngày nào đó không xa trong tương lai phải xì hơi về lại mặt đất, để lại những hậu quả tai hại cho nền kinh tế, trong đó có nợ xấu tăng vọt, hệ thống ngân hàng lâm vào khủng hoảng, lạm phát bùng nổ, kinh tế suy thoái...

Đáng lo hơn, xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng chưa thực sự có bước đột phá hữu hiệu. Mặc dù NHNN đã tăng cường chỉ đạo và triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu với việc ban hành Chỉ thị 02 ngày 27-1-2015 yêu cầu giảm tỷ lệ nợ xấu xuống dưới mức quy định với từng mốc thời gian cụ thể, đồng thời áp dụng cách phân loại nợ xấu mới khắt khe hơn (thay cho Quyết định 780 về cơ cấu nợ), nhưng nợ xấu vẫn chỉ chủ yếu được xử lý bằng cách “gom” về VAMC. Cách xử lý như vậy chỉ giúp làm đẹp tỷ lệ nợ xấu trên sổ sách của các ngân hàng thương mại, làm rộng đường cho họ theo đuổi tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh hạn mức tín dụng được NHNN nới rộng.
Rủi ro của sự nới hạn mức tín dụng này, kể cả cho những lĩnh vực nóng như bất động sản và chứng khoán, sẽ đáng ngại nếu Ngân hàng Nhà nước đồng thời cũng nới hạn mức tín dụng của chính mình cho nền kinh tế.
 
Cũng trong bối cảnh nền kinh tế thực chưa có bước nhảy đột phá và nợ xấu vẫn còn nguyên đó về bản chất, một câu hỏi thích đáng đã được đặt ra là tại sao tăng trưởng tín dụng đã tăng vọt ở nhiều ngân hàng và buộc NHNN phải “chiều” theo yêu cầu của họ? Phải chăng tín dụng đang tăng trưởng nóng vì đang đổ vào những lĩnh vực nhiều rủi ro như bất động sản và chứng khoán?
 
Ngược lại, một số người thì lại hoan nghênh quyết định trên của NHNN, cho rằng mặc dù hạn mức tăng trưởng tín dụng được nới cho nhiều ngân hàng nhưng điều này không có nghĩa là tăng trưởng tín dụng trong toàn hệ thống sẽ tăng vọt. Đa số những ngân hàng được nới hạn mức đều là những ngân hàng nhỏ, nên xét tỷ lệ tăng trưởng thì có thể cao, song số tuyệt đối tín dụng tăng thêm cũng không lớn. Ngoài ra, nhiều ngân hàng tuy được cấp thêm hạn mức tăng trưởng tín dụng nhưng họ vẫn phải chọn lựa khách hàng tốt để giải ngân, vì mục tiêu là tăng tín dụng nhưng không tăng nợ xấu. Hơn nữa, song song với việc nới hạn mức tăng trưởng tín dụng, NHNN còn yêu cầu các ngân hàng nâng cao hiệu quả kinh doanh, đảm bảo an toàn hệ thống và góp phần ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn, chấp hành các quy định của pháp luật về tỷ lệ bảo đảm an toàn, ngoại hối, quản trị rủi ro và giới hạn cấp tín dụng đối với khách hàng để hạn chế phát sinh nợ xấu...
 
Rủi ro, nếu...
 
Nhìn nhận một cách khách quan, mối quan ngại về nới hạn mức tín dụng là hoàn toàn xác đáng, nhưng với một điều kiện quan trọng. Đó là song hành với nới hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại, NHNN cũng đồng thời nới hạn mức tín dụng của chính mình (một cách thái quá) cho nền kinh tế.

Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của từng ngân hàng thương mại chỉ được hiện thực hóa nếu tổng lượng tín dụng NHNN sẵn lòng cấp cho hệ thống ngân hàng cũng tăng tương ứng để mọi nhu cầu về tín dụng của từng ngân hàng (trong hạn mức cho phép) đều được đáp ứng đầy đủ.
 
Tuy nhiên, NHNN dường như vẫn trung thành với định hướng tăng trưởng tín dụng cả năm nay trong toàn hệ thống ngân hàng ở mức 13-15% hoặc có thể lên đến 17% nếu thấy cần thiết, như đã khẳng định đầu năm nay. Mức tối đa 17% tuy cũng là cao so với tốc độ tăng trưởng GDP dự kiến cho năm nay (trên 6%) nhưng công bằng mà nói cũng không phải là quá cao, đặc biệt nếu so với những năm trước đây. Hơn thế, NHNN cũng đã tỏ ra thận trọng một cách cần thiết khi luôn phải “căng mắt” để ý đến diễn biến lạm phát trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ của mình, và điều này sẽ làm giảm đáng kể rủi ro nới lỏng chính sách tiền tệ một cách bất cẩn và quá mức như trước.
 
Với sự “trói” của NHNN về hạn mức tín dụng ở tầm vĩ mô thì dù các ngân hàng thương mại có được phép tăng hạn mức tín dụng, nguồn tín dụng có khả năng huy động được cũng chỉ trong phạm vi chừng đó, và họ buộc phải cạnh tranh với nhau để giành lấy nguồn tín dụng có hạn này cho các hoạt động cho vay của mình. Điều này trên một giác độ nào đó lại là điều có lợi vì nó sẽ cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn vốn cũng như chất lượng hoạt động của hệ thống ngân hàng nói chung, so với khi NHNN vẫn bó chặt mức tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng như trước đây.
 
Thanh tra, giám sát, xử phạt phải hữu hiệu
 
Cũng cần phải khẳng định thêm rằng chính sự “trói” trên mới là điều quan trọng để giảm rủi ro tăng trưởng tín dụng quá nóng trong nền kinh tế. Những biện pháp mà NHNN đang yêu cầu các ngân hàng thương mại thực hiện như nói trên chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ là nhiều vì điều quan trọng là NHNN phải tổ chức được hữu hiệu công tác thanh tra, giám sát và xử phạt việc thi hành các quy định và luật lệ của mình trong hệ thống ngân hàng. Việc chỉ yêu cầu và trông chờ vào sự tự giác thực hiện của các ngân hàng, hoặc kỳ vọng rằng các ngân hàng biết rõ thế nào là đúng, sai, nên hay không nên làm... thường không mấy khi mang lại kết quả tốt đẹp (cho lợi ích chung).
 
Từ đây suy ra thêm rằng mọi cuộc sốt nóng tín dụng, và do đó kinh tế tăng trưởng nóng trong tương lai, đều bắt nguồn từ NHNN, người lĩnh xướng “cuộc chơi” tín dụng, nếu vì một lý do nào đó NHNN lại quay trở lại với thời kỳ theo đuổi chính sách ưu tiên tăng trưởng tín dụng như trước đây.
 
Quay trở lại với câu hỏi về đích đến của tăng trưởng tín dụng trong thời gian qua và liệu có phải NHNN đang chiều lòng các ngân hàng thương mại.
 
Không thể phủ nhận rằng một phần đáng kể trong tăng trưởng tín dụng thời gian qua đã được hấp thu vào bất động sản và chứng khoán đang có chiều hướng ấm lên rõ nét, qua những số liệu như số giao dịch bất động sản thành công và thực tế tăng trưởng khả quan trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
 
Với nhiều ngân hàng, hạn mức tăng trưởng tín dụng như cũ đã trở thành chiếc áo quá chật giới hạn khả năng theo đuổi lợi nhuận gia tăng đang hiện hữu trước mặt họ. Mặt khác, do nhiều ngân hàng đã được tái cơ cấu và giảm đáng kể được tỷ lệ nợ xấu (một phần nhờ bán cho VAMC), họ đã đáp ứng được một trong những tiêu chí đặt ra bởi NHNN để được tăng trưởng tín dụng. Do đó, NHNN không còn lý do gì để không cho phép các ngân hàng này tăng cường cho vay thêm ra nền kinh tế.

Trên khía cạnh này thì nói NHNN “chiều” các ngân hàng thương mại cũng không phải là sai, sự nới hạn mức tín dụng thực chất cũng là một sự tưởng thưởng cho hành động “cộng tác” với NHNN của các ngân hàng thương mại khi tích cực tham gia tái cơ cấu và xử lý nợ xấu theo đúng định hướng của NHNN.
 
Và cần lặp lại rằng rủi ro của sự nới hạn mức tín dụng này, kể cả cho những lĩnh vực nóng như bất động sản và chứng khoán, sẽ có hạn, nếu tổng hạn mức tín dụng của NHNN cho cả nền kinh tế được kìm giữ ở mức tối đa 17% như nói ở trên.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).