Thursday, 16 July 2015

TTCK trước “làn sóng ngoại binh”: Kỳ vọng hay lo lắng? (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, 16/7/2015, bản gốc, tiêu đề của báo)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/ttck-truoc-lan-song-ngoai-binh-ky-vong-hay-lo-lang/1090183/

Những tuần gần đây chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng đồng thời xảy ra ở Việt Nam và thế giới đã ít nhiều thể hiện tác động lên thị trường chứng khoán Việt Nam. Ở trong nước thì có thông tin chính phủ đã đồng ý cho nới room sở hữu nhà đầu tư nước ngoài với cổ phiếu của các công ty đại chúng, trừ một số trường hợp trong các ngành nghề mà tỷ lệ sở hữu nước ngoài bị hạn chế theo các luật hiện hành hoặc bởi điều lệ của các công ty đại chúng. Mặc dù hiệu lực của quy định mới này chỉ bắt đầu từ tháng 9 nhưng khi thông tin này được công bố, người ta đã quy một cách có lý cho sự tăng giá của một số cổ phiếu nói riêng và thị trường nói chung là do tác động tích cực của việc cho phép nới room này với nhiều nhà đầu tư nội chuyển sang nắm giữ những cổ phiếu tốt, đã hết room cho nước ngoài để chờ giá tăng.

Trên thế giới, ngoài cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp và sự tác động tiêu cực của nó đến tương lai của EU đang kéo dài bấy lâu nay thì sự kiện thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận là sự lao dốc của chứng khoán Trung Quốc. Trước sự kiện này, nhiều người trong giới quan sát cho rằng sẽ có một làn sóng mới của các nhà đầu tư nước ngoài đổ bộ từ thị trường chứng khoán Trung Quốc và/hoặc những thị trường khác bị ảnh hưởng liên đới bởi những gì đang xảy ra ở Trung Quốc và Hy Lạp vào thị trường Việt Nam, đúng vào thời điểm Việt Nam cho mở room sở hữu nước ngoài. Triển vọng này càng trở nên rõ nét với những khuyến nghị mới đây của một số nhà đầu tư quốc tế nổi tiếng thế giới bằng những lời ưu ái cho thị trường chứng khoán Việt Nam so với những thị trường khác như Trung Quốc.

Khách quan mà nói thì các sự kiện này đều có tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là khi chúng xảy ra đồng thời, có tác dụng khuyếch đại tác động của nhau. Nhưng điều này không có nghĩa là thị trường chứng khoán Việt Nam sắp tới sẽ như nhận được liều thuốc phóng tên lửa để bùng nổ về giá như nhiều người đang kỳ vọng hay lo lắng.

Chắc chắn rằng các sự kiện trên sẽ mang đến một số lượng mới các nhà đầu tư nước ngoài kèm với một nguồn vốn mới đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhưng lượng vốn này lớn đến đâu lại tùy thuộc vào sự hấp dẫn tương đối của thị trường chứng khoán Việt Nam với các thị trường khác, kể cả thị trường Trung Quốc tuy vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi vững chắc dù đã có mấy phiên liên tiếp gượng dậy như trong đầu tuần này. Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, số đầu mục cổ phiếu tốt, hết hoặc gần hết room ngoại, cũng như khối lượng cổ phiếu đang lưu hành của chúng không phải là nhiều, phần vì quy mô vẫn còn khá khiêm tốn của các doanh nghiệp phát hành chúng so với các đối tác ngoại. Ngoài những cổ phiếu tốt, có tiềm năng tiếp tục tăng trưởng mạnh trong tương lai ra thì những loại cổ phiếu “làng nhàng” khác không tỏ ra sự hấp dẫn đặc biệt theo khẩu vị của giới ngoại.

Cho dù giá của những cổ phiếu tốt đã và đang tăng mạnh và, vì thế, có thể kéo theo sự tăng giá của các loại cổ phiếu còn lại ở mức độ nào đó, thì sự tăng giá nói chung này sẽ chỉ có giới hạn vì khi giá tăng đến mức độ nào đó sẽ làm cho chứng khoán Việt trở nên đắt đỏ và, do đó, kém hấp dẫn một cách tương đối so với các đối thủ trên các thị trường chứng khoán khác của thế giới và khu vực vốn cũng không ít các cổ phiếu hấp dẫn, nhất là sau khi chúng đã bị sụt giảm về giá từ những biến động trên thế giới vừa qua.

Ở khía cạnh ngược lại, việc có một sự gia tăng mới về mức độ quan tâm cũng như nguồn vốn ngoại đổ vào “săn lùng” một số cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ có tác dụng như một nguồn kích thích rất hiệu quả cho tiến trình cổ phần hóa, IPO và niêm yết của nhiều doanh nghiệp Việt Nam, gồm cả những doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang và sẽ được bổ sung vào danh sách phải cổ phần hóa hoặc thoái vốn trong thời gian tới để đón lõng khả năng thị trường sẽ tăng giá và tăng thanh khoản nhờ sự đổ bộ của giới ngoại. Với một lượng cầu lớn đang đón đầu chờ đợi như vậy sẽ làm cho việc cổ phần hóa và thoái vốn sẽ trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn bao giờ hết, và các cơ quan chủ quản cũng như DNNN không còn phải đau đầu với việc xác định bán cho ai với giá bán như thế nào để không làm thất thoát vốn nhà nước. Phản ứng tích cực và nhanh chóng từ phía cung như thế này, đến lượt nó, sẽ có tác dụng lập lại căn bằng trên thị trường, ngăn không cho giá cổ phiếu nói chung trên thị trường gia tăng quá mức.

Ngoài ra, các nhà đầu tư nước ngoài đa phần là các nhà đầu tư tổ chức, đầu tư có bài bản và chiến lược, chứ không phải là nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ trong nước đang chiếm lĩnh thị trường chứng khoán Việt Nam nhưng thường bị tâm lý bầy đàn xui khiến. Bởi vậy, nếu nhà đầu tư nước ngoài có “đẩy bật” nhà đầu tư nội để giành sở hữu một số cổ phiếu nào đó thì đây cũng là điều tích cực, vì nó góp phần ổn định hóa thị trường chứng khoán Việt Nam, thay vì dễ có xu hướng rung lắc mạnh như khi bị chi phối bởi số lượng đông đảo các nhà đầu tư cá nhân nội, như kinh nghiệm ở thị trường Trung Quốc cho thấy.

Nói cách khác, sự nới room và gia tăng đầu tư từ nước ngoài, nếu có, sẽ chỉ có tác động giới hạn lên khả năng tăng giá chứng khoán ở Việt Nam. Ngược lại, sự tham gia sâu rộn hơn của giới đầu tư nước ngoài sẽ góp phần làm thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng lành mạnh và bền vững hơn trong trung và dài hạn.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).