Friday, 21 August 2015

Khi các ông chủ ngân hàng bị “sờ gáy” (Bài đăng trên TBKTSG, 21/8/2015, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/134599/Khi-cac-ong-chu-ngan-hang-bi-so-gay.html

Nhiều việc lùm xùm đã xảy ra ở một số ngân hàng thương mại và nhiều ông chủ, lãnh đạo của các ngân hàng này đã bị các cơ quan thi hành pháp luật “sờ gáy”. Điểm chung ở những vụ việc này là các hành vi phạm pháp của các ông chủ và lãnh đạo trong những việc như dùng tín dụng của ngân hàng để “nuôi” doanh nghiệp sân sau hay cánh hữu của mình, biến ngân hàng mà mình chỉ có một phần sở hữu thành cái máy ATM tha hồ mà rút để chi tiêu cá nhân, để thôn tính các ngân hàng và doanh nghiệp khác, để tranh giành vị trí cổ đông chi phối nhằm trục lợi cho bản thân, gia đình và phe phái của mình v.v...
Một trong những vụ lùm xùm mới nhất liên quan đến ông Trầm Bê và ngân hàng Sacombank. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chấp nhận về nguyên tắc để ngân hàng này sáp nhập với Southern Bank (PNB). Nhưng đáng chú ý là dường như NHNN chỉ phê chuẩn vụ sáp nhập này sau khi ông Bê, với tư cách là Phó Chủ tịch HĐQT Sacombank, tự nguyện cam kết ủy quyền không hủy ngang, vô thời hạn cho NHNN hoặc tổ chức, cá nhân do NHNN chỉ định thực hiện đầy đủ các quyền của cổ đông sau khi nhận sáp nhập PNB đối với toàn bộ cổ phần tại Sacombank, PNB và ngân hàng sau sáp nhập thuộc quyền sở hữu của ông Bê và các bên liên quan. Bằng việc ủy quyền này, ông Bê đã chính thức từ bỏ quyền và khả năng tham gia vào quản trị, điều hành ngân hàng sau sáp nhập.
Thông thường, xét về mặt quyền lợi, khi một cổ đông nào đó vì một hoàn cảnh bắt buộc nào đó phải ủy quyền việc thực hiện quyền cổ đông của mình thì người được chọn ủy quyền thường là người thân hoặc trong phe nhóm của mình. Hành động ủy quyền của ông Bê cho một bên thứ ba là “người dưng”, hoàn toàn không liên quan gì đến mình, đặc biệt đó lại là cơ quan đại diện cho nhà nước – NHNN, quả thật là một sự kiện hi hữu, chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam.
Tuy vậy, sự việc này không hoàn toàn khó hiểu nếu để ý thêm rằng ông Bê cũng cam kết trong quá trình thực hiện đề án tái cơ cấu và xử lý nợ xấu của ngân hàng sau sáp nhập, nếu giá trị tài sản đảm bảo cho các nghĩa vụ nợ của ông và những người có liên quan không đủ sẽ bổ sung thêm các tài sản khác thuộc sở hữu của ông Bê.
Những điều trên cho thấy, việc ủy quyền của ông Bê không hẳn là tự dưng, tự nguyện. Lưu ý đến cụm từ “cho các nghĩa vụ nợ” trong đoạn trên. Tại sao nghĩa vụ nợ của cá nhân và gia đình ông Bê lại bị nêu ra, và nó có gì liên quan ở đây? Cứ theo lẽ thường, nợ cá nhân và gia đình ông Bê thì do ông và gia đình ông Bê phải trả và/hoặc chịu trách nhiệm với các chủ nợ, chứ chẳng hề liên quan gì đến Sacombank, PNB, hay NHNN, và cũng không thể là lý do để ông phải (tự nguyện) từ bỏ quyền cổ đông ở các ngân hàng thương mại này.
Trong trường hợp này, nếu ở địa vị ông Bê thì một người khác rất có thể đã dùng một thủ thuật, một hành vi lắt léo nào đó để huy động vốn (vay nợ) dựa trên những tài sản thế chấp hoặc là ảo, “tay không bắt giặc”, hoặc là theo kiểu “lấy mỡ nó rán nó” tương tự như những gì đã xảy ra với “Bầu” Kiên trước đây. Vốn này sau đó được dùng để thâu tóm cổ phần các ngân hàng liên quan để giành vị trí chi phối, và tiến thêm một bước nữa, thâu tóm cả những ngân hàng đó, biến chúng gần như thành ngân hàng riêng của nhà mình.
Nhưng dù là bằng vốn “ảo”, hay bằng những mánh lới cả “lách” luật lẫn phi pháp, và mạng lưới sở hữu chéo chằng chịt, tinh vi như trên thì những phần trăm sở hữu (mang tính chi phối) lại, đáng tiếc, là thật trên giấy tờ chứng nhận, trước pháp luật, không thể bằng một mệnh lệnh hành chính nào đó tuyên bố vô giá trị, khi các hành vi và mánh lới này bị phát giác và vạch trần.
Trong bối cảnh đang nhùng nhằng chuyện tái cấu với sáp nhập ngân hàng và không muốn “rút dây động rừng”, hoặc hành vi của những người trong cuộc chưa đến mức độ phải xử lý mạnh tay ngay như với tội phạm hình sự nguy hiểm, việc NHNN loại bỏ hoặc cách ly những đương sự này ra khỏi tiến trình tái cơ cấu như trên là hình thức “sờ gáy” các đương sự một cách rất êm thấm, kín kẽ, hiệu quả và hợp pháp. Cách này cũng là một bước đi có tính ngăn chặn, không để dẫn đến hậu quả lớn hơn sau này. Nếu cứ để cho các ngân hàng sáp nhập với nhau và một số cá nhân có cổ phần chi phối tiếp tục lũng đoạn ngân hàng mới sau sáp nhập ở quy mô và phạm vi ảnh hưởng lớn hơn, rốt cuộc một ngày nào đó NHNN lại phải mua lại ngân hàng này với giá 0 đồng một cách cực chẳng đã.
Việc đương sự (phải) cam kết bổ sung cho đủ giá trị tài sản cam kết cho các nghĩa vụ nợ của mình và gia đình cũng cho thấy NHNN không chỉ loại bỏ, cách lý sự dính líu của đương sự vào các ngân hàng thương mại mà còn bắt đương sự phải chịu trách nhiệm về hậu quả của, và trả giá đầy đủ cho, những hành vi và mánh lới của mình. Đây lại là một sự việc hi hữu khác nữa ở Việt Nam. 
Tuy biện pháp xử lý của NHNN trong những trường hợp tương tự như thế này là điều đáng hoán nghênh, nhìn từ một góc độ khác, thì chúng chỉ là những biện pháp chữa cháy. Điều NHNN cần làm tốt hơn là phải tăng cường công tác thanh tra, theo dõi sát sao hoạt động của hệ thống ngân hàng, mà điều này dường như chưa được làm tốt.
Lấy ví dụ trường hợp Ngân hàng Đông Á. Chỉ gần đây NHNN mới cho biết, sau khi thanh tra toàn diện ngân hàng này họ đã phát hiện ra nhiều vi phạm pháp luật về quản lý tài chính, cấp tín dụng và hoạt động kinh doanh khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính và hoạt động của ngân hàng này trong giai đoạn 2012 trở về trước. Nếu công tác thanh tra, giám sát và tăng cường quản lý rủi ro được thực hiện tốt từ trước đây thì không phải chờ đến năm 2015 này vụ việc Đông Á mới vỡ ra, quá muộn để đến mức độ NHNN phải áp dụng kiểm soát đặc biệt với ngân hàng này.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).