Wednesday, 12 August 2015

Trả lời phỏng vấn CafeF về tỷ giá, ngày 12/8/2015 (Hôm nay thật là một ngày bội thu, đội ơn NHNN lắm lắm!)


http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/noi-bien-do-ty-gia-doanh-nghiep-xuat-khau-se-ngay-lap-tuc-huong-loi-20150812133837042.chn


“Nới biên độ tỷ giá, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ ngay lập tức hưởng lợi”

PV: NHNN tuyên bố rằng sẽ duy trì tỷ giá biến động không quá 2% trong cả năm nay, và "room" này cũng đã được sử dụng triệt để trong nửa đầu năm. Tuy nhiên cơ quan quản lý lại vừa có quyết định khá lạ là bất ngờ điều chỉnh biên độ của tỷ giá VND/USD, từ mức +/-1% lên  +/-2% - lần điều chỉnh đầu tiên kể từ tháng 2/2011. Vậy ông đánh giá thế nào về động thái này?

TS. Phan Minh Ngọc: Để điều chỉnh tỷ giá thì có hai cách, hoặc là điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng (tỷ giá tham chiếu), hoặc điều chỉnh biên độ biến động xung quanh tỷ giá liên ngân hàng. Việc tăng tỷ giá liên ngân hàng hay nới rộng biên độ biến động từ 1% lên 2% đều mang đến một kết quả giống nhau là cho phép VND yếu đi so với USD.
Tuy nhiên, cách điều chỉnh biên độ biến động tạo ra sự linh hoạt hơn cho tỷ giá theo sát với diễn biến của thị trường so với cách điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng. Cách này cũng tạo ra ít tác động về mặt tâm lý hơn so với cách thứ nhất, đặc biệt xét đến bối cảnh NHNN cương quyết “nói không” với việc phá giá VND quá 2 điểm phần trăm trong năm nay, mặc dù việc nới biên độ về bản chất cũng là sự chấp nhận chính thức phá giá VND.

Việc điều chỉnh biên độ này sẽ có lợi hơn với nhóm doanh nghiệp nào thưa ông?


Như đã được phân tích nhiều lần, các doanh nghiệp xuất khẩu ngay lập tức sẽ được hưởng lợi sau một giai đoạn dài bị ảnh hưởng nặng nề bởi VND lên giá thực so với USD và so với phần lớn các đồng tiền của các nước trên thế giới.


Không chỉ vậy, hàng hóa sản xuất trong nước tiêu thụ trong nước cũng nhờ đó mà tăng được sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu, giúp cho doanh nghiệp sản xuất cho thị trường nội địa trụ vững hơn trên thị trường.


Thế còn với các doanh nghiệp nhập khẩu thì sao?


Đối tượng bị thiệt hại là các doanh nghiệp nhập khẩu về tiêu thụ tại thị trường nội địa, nhưng điều này là tốt cho cả nền kinh tế vì nó giúp thúc đẩy sản xuất nội địa và xuất khẩu, giảm nhập siêu.


Nên nhớ, cho dù có một số tác hại nào đó cho một số đối tượng nào đó trong nền kinh tế, việc phá giá bản tệ luôn là một giải pháp hữu hiệu khi nền kinh tế đang phải đối mặt với nhập siêu, và/hoặc xuất khẩu, tăng trưởng GDP cũng như tăng trưởng việc làm cần một cú hích. Điều này được chứng minh không thể rõ nét hơn qua việc Trung Quốc phải chấp nhận phá giá NDT trong 2 lần liên tiếp là ngày 11/8 và hôm nay 12/8.


Nhiều ý kiến cho rằng, áp lực lên tỷ giá vẫn còn rất lớn, đặc biệt là khi Trung Quốc vẫn chưa có động thái nào cho thấy họ sẽ dừng lại việc phá giá đồng nội tệ, trong khi các đồng tiền khác trong khu vực cũng chịu ảnh hưởng. Theo ông thời gian tới, tỷ giá nên được điều hành theo hướng nào là hợp lý?


Tôi cho rằng việc NHNN chấp nhận phá giá VND trong bối cảnh các nước trên thế giới thi nhau phá giá bản tệ là một bước đi bắt buộc và cần thiết.


Trong thời gian tới, việc điều hành tỷ giá VND nên tiếp tục theo hướng để tỷ giá VND biến động linh hoạt hơn theo diễn biến thị trường, cơ quan quản lý không nên tự làm khó mình bằng việc tuyên bố ngay từ đầu một con số cụ thể nào đó như thời gian qua.


Vâng, xin cảm ơn những chia sẻ của ông!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).