Friday, 4 September 2015

Đánh giá về nợ công Việt Nam (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 5/9, bản gốc)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=357584

Nợ công của Việt Nam đã trở thành vấn đề nóng từ vài năm nay khi mức nợ công tính trên GDP ngày càng tăng nhanh, và gần đây đã tiến đến gần tỷ lệ 60% GDP, với mức tuyệt đối tính đến cuối năm 2014 là 110 tỷ USD, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố. Trong khi đó, trần nợ công Việt Nam được Chính phủ và Quốc hội ấn định ở ngưỡng 65% GDP. Với đà tăng như hiện nay trong khi tăng trưởng kinh tế đã và sẽ chậm lại rõ rệt so với những thập kỷ trước thì chuyện nợ công Việt Nam chạm và vượt ngưỡng chỉ còn là vấn đề thời gian.

Tuy vậy, bản thân cái ngưỡng 65% là một điều cần bàn. Cơ sở nào để ngưỡng này được chọn? Tại sao không phải là một con số cao hơn, nếu suy từ trường hợp của nhiều nước phát triển có mức nợ công cao hơn nhiều GDP của họ (tức tỷ lệ nợ công/GDP vượt 100%)? Ngược lại, tại sao không phải là một con số thấp hơn nhiều, nếu cứ suy từ những nước đang phát triển ngay trong khu vực như Indonesia, với mức nợ công chỉ khoảng 25%?

Ấn tượng đầu tiên về con số 65% của Việt Nam là có lẽ nó được đưa ra (vào năm 2011) khi nợ công của Việt Nam đã ở mức tương đối cao so với nhiều nước trong khu vực (thực tế đã đạt tới 55,4% GDP vào năm 2011). Vì xu hướng nợ công của Việt Nam chỉ có tăng lên chứ khó mà giảm đi nên rốt cuộc, rất có thể những người làm chính sách đã phải lấy hú họa một con số nào đó đủ cao hơn con số hiện tại (55,4%) ở một khoảng cách an toàn để làm cái ngưỡng “phấn đấu” và cũng là để làm yên lòng quốc dân.

Nếu căn cứ vào tiêu chuẩn của thế giới đương thời thì con số trên cũng dường như không cho thấy có mối liên hệ mật thiết nào. Theo một số nghiên cứu đương thời (khoảng 2010-12) của một nhóm tác giả là các học giả thuộc IMF như Reinhart Rogoff, là những người mà kết quả nghiên cứu của họ đã có ảnh hưởng lớn đến giới làm chính sách toàn cầu, thì có tồn tại một cái ngưỡng nợ công, cụ thể là 90% GDP. Nếu nợ công của nước nào đó vượt qua ngưỡng này thì nó sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế của nước đó trong những năm tiếp theo. Như vậy, lẽ ra những nhà làm chính sách của Việt Nam đã có thể “yên tâm” đặt cái ngưỡng cho nợ công của Việt Nam cao hơn nhiều con số 65% nói trên, không phải là 90% như mức an toàn của  thế giới thì cũng là một con số nào đó gần gần như vậy, chẳng hạn là 80% hoặc 85%, vừa đảm bảo đủ cao để họ có thừa không gian để xoay sở mà không phải lo lắng đến sự vượt trần quá sớm, và đồng thời vẫn không làm cho dân chúng âu lo vì mức trần 80%-85% này của Việt Nam vẫn còn thấp hơn tiêu chuẩn an toàn của thế giới!

Nhưng rồi 1, 2 năm gần đây đã xuất hiện những nghiên cứu không chỉ vạch ra sai sót “ngớ ngẩn” trong việc tính toán (lỗi khi xử lý dữ liệu trên phần mềm văn phòng excel) để cho ra kết quả về ngưỡng an toàn nợ công 90% của nhóm tác giả IMF nói trên, mà còn chứng minh được rằng thực ra chẳng có cái ngưỡng nợ công nào có thể được coi là ngưỡng an toàn trên thế giới để nếu nợ công của một quốc gia vượt qua ngưỡng đó thì tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực. Vì thế mà căn cứ để xác định ngưỡng nợ công 65% của Việt Nam lại càng trở nên chông chênh hơn nữa, lại càng cho thấy nó chỉ là một con số chủ quan, do những người có trách nhiệm đặt ra theo kiểu tình huống.

Tuy vậy, nói như trên không có nghĩa là Việt Nam có thể kê gối cao ngủ kỹ với con số nợ công hiện thời và trong tương lai, nếu cứ tăng với cái đà lớn như hiện nay. Với nợ công, quan trọng hơn việc xác định trần nợ công bao nhiêu thì hợp lý là việc xác định nợ công có hiệu quả thế nào đến tăng trưởng kinh tế. Ở Việt Nam, một phần đáng kể vay nợ công được dùng để chi trả chi phí thường xuyên trong ngân sách nhà nước (ví dụ, lương), trả nợ, đảo nợ, một phần khác thì được cho vay các doanh nghiệp nhà nước sử dụng một cách rất lãng phí, ít hiệu quả, thất thoát nhiều. Chẳng phải vô cớ mà hệ số ICOR (tỷ lệ vốn tăng lên để tạo thêm một đơn vị sản lượng) của Việt Nam thuộc hạng rất cao trong khu vực và trên thế giới, cho thấy mức độ kém hiệu quả của việc sử dụng vốn nói chung và vốn từ vay nợ công ở Việt Nam. 

Nghịch lý nội tại và cũng là cái vòng luẩn quẩn là vì đầu tư kém hiệu quả nên càng phải đầu tư nhiều để mong đạt được mục tiêu tăng trưởng, và do đó càng phải vay mượn nhiều. Càng vay mượn nhiều thì mức trả nợ gốc và lãi càng lớn, dẫn đến phải vay nợ nhiều hơn nữa để đảo nợ, trả nợ, chứ chưa dám nói đến để đảm bảo nhu cầu vốn đầu tư.

Biết được vấn đề như vậy rồi thì giải pháp phải là hạn chế vay nợ công để chi tiêu và đầu tư, mặc dù, như đã phân tích, chẳng có một cái ngưỡng nợ công tham chiếu nào trên thế giới để nói rằng mức nợ công như hiện tại (và trong tương lai, khi đạt đến 65% GDP) của Việt Nam là nguy hiểm và rủi ro cả. Nếu lo sợ không vay nợ thì không có tiền để đầu tư thì cần phải giảm thiểu vai trò của nhà nước với tư cách là nhà đầu tư lớn trong xã hội và, thay vào đó, thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân trong và ngoài nước. Nếu lo sợ không vay nợ thì không có tiền trả nợ, đảo nợ hoặc chi trả các chi phí thường xuyên như lương công nhân viên chức nhà nước thì phải giải quyết từ gốc là, ví dụ, cái sự phình to quá nhanh và quá mạnh của đội ngũ những người hưởng lương nhà nước. Khi đã cắt giảm được chi tiêu rồi thì tự khắc nhu cầu vay nợ công sẽ giảm tương ứng.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).