Wednesday, 23 September 2015

Phang TS Nguyễn Đức Độ về tỷ giá cái chơi!


Tớ đang ước được thấy một số nghiên cứu về tác động của tỷ giá lên nền kinh tế và việc có nên phá giá không lộ diện thì may quá, hôm nay tớ vớ được bài này của đồng chí TS Nguyễn Đức Độ. Y như tớ hình dung trước, đọc đến đâu là thấy sạn, thấy sai đến đó. Dưới đây là comment của tớ đối với mỗi một đoạn/ý trong bài của đồng chí Độ.

Nguyễn Đức Độ (NDD) viết: Để phân tích tác động của việc đồng NDT giảm giá đến nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc, chung ta xem xét phương trình (1).

Tớ bình luận: Tớ không (được) đọc nghiên cứu gốc của đồng chí NDD nên chỉ bình luận sơ sơ ở đây về những sai sót có thể có trong phương trình trên, vì thấy nó quá sơ sài, quá đơn giản hóa vấn đề.

(1) Không thấy đề cập đến (biến động) tỷ giá VND/CNY, là cái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tính cạnh tranh của hàng Việt Nam so với hàng Trung Quốc (ở mọi nơi).
(2) Không control các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc và với các đối tác của cả 2 nước này, ví dụ như các FTAs.
(3) Không control các yếu tố ảnh hưởng đến dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc, từ ASEAN sang Việt Nam, ví dụ như chính sách China+1 của các doanh nghiệp Nhật muốn giảm bớt rủi ro khi tập trung quá nhiều vào Trung Quốc, hoặc sự gia tăng tiền lương ở Trung Quốc làm các doanh nghiệp chuyển bớt các hoạt động sản xuất sang Việt Nam. Sự chuyển biến chính sách này làm gia tăng đầu tư (của Nhật) vào Việt Nam đồng thời giảm đầu tư (của Nhật) vào Trung Quốc. Gắn với chuyện này là những hậu quả như nhập siêu gia tăng vì Việt Nam trở thành nơi hoàn thiện đầu cuối, tạo ít giá trị thặng dư trong khi phải nhập khẩu máy móc và phương tiện, đầu vào từ Trung Quốc để lắp ráp, hoàn thiện v.v...
(4) Tương tự như vậy, nghiên cứu đã không control sự thay đổi trong phân công lao động quốc tế, với Việt Nam trở thành công xưởng mới của thế giới trong nhiều nhóm mặt hàng v.v..

Tóm lại, chỉ cần với những thiếu sót trên là đủ để đặt dấu hỏi to tướng về chất lượng và kết quả nghiên cứu của NDD. Đó là chưa kể đến những vấn đề kỹ thuật trong xử lý số liệu (chuỗi thời gian, với các test) mà thường bị bỏ qua/lờ đi ở nhiều nghiên cứu kinh tế lượng trình độ “làng” như thế này (tớ nhắc lại là tớ chưa đọc nghiên cứu gốc của NDD, nhưng sẽ không ngạc nhiên nếu biết NDD không xử lý các vấn đề này). Nếu không được xử lý, các vấn đề kỹ thuật của số liệu hoàn toàn làm biến dạng kết quả tính toán, kiểm định.

NDD viết: Hơn nữa, việc tăng nhập khẩu từ Trung Quốc khi đồng NDT giảm giá không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc nhập siêu của cả nền kinh tế tăng theo, bởi có thể Việt Nam tăng nhập khẩu từ Trung Quốc khi đồng NDT yếu, nhưng đồng thời lại giảm nhập khẩu từ các nước khác, chẳng hạn như từ khu vực ASEAN.  

Tớ bình luận: Điều này là đương nhiên. Khi CNY yếu đi mà các nước khác không phá giá bản tệ theo thì đương nhiên hàng Trung Quốc sẽ có tính cạnh tranh mạnh hơn, nên Việt Nam chuyển sang nhập của Trung Quốc thay vì các nước ASEAN. Nhưng NDD đã bỏ qua khả năng các nước khác cũng phá giá ăn theo CNY, như vừa qua, làm nhập khẩu của Việt Nam tăng lên đồng thời xuất khẩu của Việt Nam giảm đi, nên hậu quả là nhập siêu cả nền kinh tế cũng tăng theo. Và, quan trọng hơn, nói như trên thì NDD cũng đã thừa nhận thiếu sót khi không control biến động tỷ giá giữa CNY với các bản tệ ASEAN và VND trong phương trình trên.

NDD viết: Theo hình 2, trong suốt giai đoạn 1995-2013 tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN cộng lại có xu hướng tăng trong khi tỷ trọng nhập khẩu từ khu vực ASEAN lại có xu hướng giảm. Điều đáng nói là xu hướng này diễn ra bất kể đồng NDT tăng giá hay giảm giá.
Như vậy, theo phương trình (1), nếu Việt Nam phá giá VND để thúc đẩy xuất khẩu, thì sẽ dẫn đến nhập khẩu từ Trung Quốc gia tăng theo. Kết luận này cũng lý giải tại sao trong nhiều năm qua, Việt Nam phá giá rất mạnh VND, còn đồng NDT thì tăng giá so với USD, nhưng nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc vẫn gia tăng mạnh. Vấn đề như vậy, không phải do tỷ giá được xác định cao hay thấp, mà là do cơ cấu kinh tế. Vì vậy, nếu không thay đổi cơ cấu kinh tế, nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ chỉ giảm, khi Việt Nam giảm đầu tư và xuất khẩu. Nhưng đây có lẽ là điều ít ai muốn! 

Tớ bình luận: NDD quả là rất liều khi phương trình viết một đằng, diễn giải theo một nẻo khác. Điều cơ bản khi làm các nghiên cứu kinh tế lượng là phải báo cáo kết quả tính toán, kiểm định, với dấu (+/-) của các hệ số và độ tin cậy của chúng. Từ bản thân cái phương trình trên thì đến Chúa cũng chẳng biết tại sao khi VND bị mất giá thì nhập khẩu từ Trung Quốc lại tăng theo. 

Và cho dù nếu NDD có tính toán được, và có kết quả có ý nghĩa từ cái phương trình đó thì với những sai sót tớ đã chỉ ra ở trên, những kết quả tính toán của NDD về quan hệ kỳ quặc giữa phá giá VND với nhập siêu từ Trung Quốc tăng lên là kết quả của sự hoang tưởng.

NDD viết: Về xuất khẩu sang Trung Quốc cũng vậy, nếu việc phá giá đồng NDT dẫn đến xuất khẩu và tăng trưởng của Trung Quốc tăng, Việt Nam cũng sẽ được hưởng lợi từ những diễn biến này, do nhu cầu nhập khẩu từ Trung Quốc đối với các nguyên liệu từ Việt Nam gia tăng. Một số tính toán cho thấy, nếu đồng NDT giảm giá 1%, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc có thể tăng theo khoảng 1%.  

Tớ bình luận: Lậy Chúa! Đúng là Việt Nam có thể hưởng lợi do nhập khẩu các nguyên liệu của Trung Quốc tăng. Nhưng ngược lại, sao NDD lại quên không tính đến xuất khẩu nói chung của Việt Nam sẽ bị lụn bại vì bị hàng Trung Quốc lấn át? Chẳng hạn, đúng là Việt Nam xuất khẩu được nhiều cao su thô sang Trung Quốc (ví dụ, tăng 1 triệu USD), nhưng ngược lại, vì CNY yếu đi so với VND nên rốt cuộc Việt Nam lại không xuất khẩu được những mặt hàng khác như cao su bán thành phẩm (ví dụ, sụt giảm mất 2 triệu USD), nên kết cục Việt Nam vẫn nhập siêu thêm 1 triệu USD nữa từ Trung Quốc! Vả lại, NDD đang thoát ly cái phương trình của mình, chuyển sang lý luận suông, bởi những lý luận thế này không xuất phát từ kết quả tính toán của phương trình trên (nói vậy có nghĩa là đưa ra phương trình để làm gì? Dọa ma à?)

NDD cũng lại mang con ngáo ộp là “một số tính toán cho thấy” ra để dọa thiên hạ. Nhưng những tính toán vớ vẩn tương tự như của NDD thì làm gì có giá trị tham khảo?

NDD viết: Về tác động đến xuất khẩu của Việt Nam nói chung trên thị trường thế giới, các tính toán cho thấy, khi đồng NDT giảm giá, xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực do hàng hóa của Việt Nam kém cạnh tranh hơn [Nguyễn Đức Độ (2015)]. Tuy nhiên, nếu xuất khẩu của Việt Nam bị giảm về tổng thể, nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc cũng sẽ lại giảm theo.

Tóm lại, mặc dù Trung Quốc phá giá sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến xuất khẩu của Việt Nam, nhưng riêng trong quan hệ song phương, nhập siêu của Việt Nam có tăng hay không thì cần có những nghiên cứu tiếp theo.

Tớ bình luận: Ý đầu (Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực khi CNY giảm giá) là rất đúng, chẳng cần phải tính toán lôi thôi! Nhưng nói thế rồi thì NDD sao lại còn nói chuyện Việt Nam được lợi khi CNY bị phá giá như đoạn trên? Chẳng phải là tự mâu thuẫn ru?

Nói “cần có những nghiên cứu tiếp theo” sao lại còn khẳng định CNY bị phá giá thì Việt Nam lại được lợi?

NDD viết: Thứ nhất, là tâm lý đầu cơ USD đã gia tăng ngay sau đó và buộc NHNN phải đưa ra cam kết không điều chỉnh tiếp tỷ giá cho đến đầu năm 2016. Mặc dù tỷ giá VND/USD đã giảm trở lại, nhưng diễn biến tỷ giá trong thời gian tới sẽ ra sao vẫn là một câu hỏi, nhất là khi những động thái của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và NHTW Trung Quốc (PBoC) vẫn là những ẩn số, đồng thời niềm tin của thị trường vào các cam kết của NHNN đã không còn mạnh như trước.

Tớ bình luận: Thật hết biết! Lẽ ra phải nói tâm lý đầu cơ còn lớn hơn thế nhiều trước khi, và là lý do để NHNN phải phá giá! Niềm tin không còn mạnh vì NHNN đã không giữ được lời ư? Thế giả sử nếu NHNN muốn giữ lời, liệu NHNN có giữ được không? Tức là, NHNN có chống lại được áp lực phá giá không?

NDD viết: Thứ hai, những biến động về tỷ giá trong thời gian gần đây đã khiến cho lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm tăng từ mức 5,4% hồi tháng 4/2015 lên 6,7% hiện nay. Việc phát hành trái phiếu chính phủ, vì thế càng trở nên khó khăn. Đó là chưa kể nợ công cũng sẽ gia tăng khi VND mất giá.

Tớ bình luận: Có lúc nào NDD tự hỏi rằng tại sao NHNN lại giảm mạnh M2 suốt từ đầu năm đến nay so với năm trước không nhỉ? Thôi, để tớ nói luôn cho nhanh chứ chưa chắc NDD tìm được câu trả lời. Thông thường, nếu muốn giảm lãi suất thì chẳng phải NHNN chỉ cần tăng M2 là xong phải không? Nhưng vì NHNN cố sống cố chết giữ tỷ giá nên phải thắt cung tiền lại, do đó làm cho lãi suất tăng lên. Vậy thì, thay vì nói ngược là do phá giá VND làm tăng lãi suất, NDD phải thay đổi tư duy và nâng cao kiến thức bằng cách nói rằng do phải cố gắng không phá giá VND nên NHNN đã “vô tình” làm tăng lãi suất trái phiếu.

Còn về chuyện nợ công gia tăng khi VND mất giá, tớ không phải kể lại những lập luận xác đáng của nhiều người khác về chuyện này (chẳng hạn, nợ công tính ra VND của những khoản nợ USD tăng lên, nhưng ngược lại, Việt Nam đang hưởng lợi nhờ nợ công tính ra VND của những khoản nợ bằng ngoại tệ khác đã giảm mạnh do các ngoại tệ khác cũng mất giá so với VND). Ở đây, tớ chỉ muốn phang NDD rằng chính phủ đang chuyển tiền từ tay nọ sang tay kia trong chuyện nợ công. Cụ thể, để khống chế nợ công gia tăng khi tính bằng VND do VND bị mất giá so với USD, chính phủ ra lệnh cho NHNN phải ổn định tỷ giá. Vì tỷ giá không tự nhiên mà ổn định được nên NHNN phải tiêu tốn quỹ ngoại hối, cũng giống như việc trích quỹ bình ổn xăng dầu ấy, nên rốt cuộc chính phủ, đại diện là Bộ tài chính không phải chi nhiều VND hơn để trả nợ nhưng chính phủ, đại diện là NHNN lại mất đi nhiều hơn USD.

NDD viết: Về tác động của việc Trung Quốc phá giá đồng NDT đến nền kinh tế thực, một số đánh giá cho thấy là không quá lớn.

Theo một số tính toán, nếu tỷ giá VND/USD tăng 1%, GDP sẽ tăng tổng cộng khoảng 0,08 điểm phần trăm trong 3 năm tiếp theo, nhưng nếu lãi suất tăng 1%, GDP sẽ bị giảm 0,24 điểm phần trăm trong cùng giai đoạn. Một số tính toán khác của chúng tôi cho thấy, việc phá giá VND ở mức 1% có thể dẫn đến lãi suất tăng 0,3%. Như vậy, nếu phá giá mà dẫn lãi suất gia tăng, các tác động của việc phá giá đến tăng trưởng kinh tế sẽ bị triệt tiêu.

Tớ bình luận: Lại “một số đánh giá cho thấy”, “theo một số tính toán”! Ô hô! Tớ nói thật, nếu “những đánh giá” với “những tính toán” này có cả của NDD thì NDD nên cảm thấy xấu hổ vì đã viện dẫn ra nhé.

Vả lại, NDD và đồng sự có bao giờ kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa tỷ giá và lãi suất, cái nào dẫn đến cái nào ở Việt Nam chưa? Như trên tớ nói rồi đấy, NDD đã thử kiểm định khả năng do lãi suất tăng không đủ nên VND bị phá giá chưa? Nếu lãi suất tăng lên 5% thì liệu VND có bị phá giá không? Ngược lại, sau khi phá giá VND 5%, nếu NHNN không tuyên bố lập trường không phá giá nữa thì lãi suất có nhất thiết phải tăng lên không?

NDD viết: Nguyên nhân dẫn đến tác động của việc phá giá VND đến tăng trưởng kinh tế không đáng kể là do hàng hóa của Việt Nam có độ co giãn theo giá thấp. Điều này có thể xuất phát từ việc Việt Nam là nền kinh tế gia công, theo đó nhập khẩu nguyên liệu, chế biến, rồi xuất khẩu, nên khi VND giảm giá dẫn đến chi phí đầu vào cũng tăng theo và hông con nhiều dư địa để giảm giá bán.

Tớ bình luận: Chưa cần nói đến cái kết luận cực kỳ đáng nghi (do chẳng có chứng cứ/tính toán khoa học nào được đưa ra) về phá giá không làm tăng đáng kể tăng trưởng, NDD phải nghĩ đến khía cạnh rằng đúng là phá giá có thể không làm tăng đáng kể tăng trưởng (ví dụ đang từ mức bình thường là 5%/năm lên 6%/năm), nhưng phá giá là để BẢO TOÀN/BẢO VỆ tăng trưởng trong bối cảnh, ví dụ, các nước khác thi nhau phá giá, nên nếu Việt Nam không phá giá VND thì tăng trưởng của Việt Nam thậm chí còn tụt xuống 2, 3% nữa cơ! Phá giá trong bối cảnh này để tăng trưởng đạt được mức như bình thường là 5% đã là một điều quá tích cực rồi, và vì thế phải thực hiện phải không?

NDD viết: Vì vậy, khi NHNN phá giá, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam sẽ không giảm giá bán để tăng sản lượng. Ngược lại, họ vẫn giữ nguyên giá bán bằng USD, nhưng sẽ nhận được nhiều VND hơn khi tỷ giá VND/USD tăng. Hơn nữa, do tốc độ tăng xuất khẩu của Việt Nam luôn lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP, nên sự gia tăng của xuất khẩu phải trả giá bằng sự sụt giảm của các khu vực kinh tế khác, khi khu vực xuất khẩu lấy nguồn lực của các khu vực kinh tế này.

Tớ bình luận: Dựa vào đâu mà NDD nói khơi khơi rằng các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam sẽ không giảm giá bán để tăng sản lượng?

Đúng là khi tăng xuất khẩu thì có thể sẽ kéo theo sự sụt giảm của các khu vực khác. Nhưng nếu nền kinh tế đang ở trọng trạng thái tăng trưởng dưới tiềm năng (chẳng hạn như hiện tại), có nghĩa là các nguồn lực đang tương đối dư thừa (ví dụ, lao động chưa toàn dụng), thì gia tăng xuất khẩu chẳng phải là điều tốt hơn hay sao? Hay cứ để mọi khu vực đều dư thừa (như nhau) mới là tốt?

NDD viết: Một số nghiên cứu khác của Phạm Thế Anh (2015), Bùi Trinh và Tô Trung Thành (2015) còn đưa ra kết quả là việc phá giá VND còn có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế giảm do giá đầu vào nhập khẩu gia tăng.

Tớ bình luận: Ngưu tầm ngưu!

NDD viết: Như vậy, nếu các kết quả nghiên cứu trên đáng tin cậy, chính sách tỷ giá của Việt Nam không nên theo đuổi mục tiêu kích thích xuất khẩu bằng mọi giá. Thay vào đó, chính sách tỷ giá của Việt Nam nên đề cao mục tiêu ổn định với tốc độ mất giá của VND so với USD không quá 3%/năm tùy thuộc vào bối cảnh. Chính sách này sẽ có lợi cho việc ổn định tiền tệ, giảm lãi suất để kích thích tăng trưởng hiệu quả hơn.

Tớ bình luận: Sorry là tớ đã trót nói câu “ngưu tầm ngưu” vì tớ đã chưa đọc đến câu này: “Như vậy, nếu các kết quả nghiên cứu trên đáng tin cậy”! Đúng rồi, vấn đề là có đáng tin cậy hay không, và nếu chưa có cơ sở để nói là đáng tin cậy (mà chắc là thế, vì cứ suy từ nghiên cứu này của bản thân NDD ra là biết) thì chớ có kết luận blah blah như đúng rồi ở trong bài này nhé, NDD à!

NDD viết: Tuy nhiên, để giảm lãi suất, NHNN cần phải sẵn sàng bán USD can thiệp trên thị trường ngoại hối trong trường hợp có biến động lớn. Vấn đề là tương quan về nguồn lực giữa NHNN và thị trường thế nào. Điều này, đến lượt nó lại phụ thuộc vào lượng dự trũ ngoại hối quốc gia hiện nay lớn hay nhỏ, các biến động trên thị trường quốc tế mạnh hay nhẹ, kỳ vọng của thị trường nhiều hay ít. Nhưng có một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong việc ổn định tỷ giá, đó là các cam kết của NHNN đáng tin cậy đến mức nào.

Tớ bình luận: Tớ chịu, chẳng hiểu tại sao lại như NDD nói. Nếu NHNN bán USD can thiệp, cái mà nó thu về là VND (chứ chẳng nhẽ lại cho không?). Vậy VND nếu nằm ở trong két của NHNN thì tức là cung tiền giảm đi, và do đó lãi suất phải tăng lên chứ, sao lại có thể giảm đi được? Fed muốn giảm lãi suất để kích thích tăng trưởng ở Mỹ thì nó phải bơm USD ra chứ có phải là làm ngược lại đâu nhỉ?

NDD viết: Tài liệu tham khảo:

1. Phạm Thế Anh (2015). “Hiệu ứng chuyển và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam”. Tài liệu tọa đàm “Tác động của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam hiện nay”;

2. Nguyễn Đức Độ (2014). “Phá giá đồng Việt Nam: Bao nhiêu thì đủ?“ Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế. Số 9/2014. Tr. 3-10;

3. Nguyễn Đức Độ (2015). “Đồng USD mạnh và những tác động đến xuất khẩu của Việt Nam”. Tạp chí Tài chính. Số 5/2015 (kỳ 1). Tr. 50-52;

4. Bùi Trinh, Tô Trung Thành (2015). “Một số ý kiến về việc phá giá NDT”. Tài liệu tọa đàm “Tác động của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam hiện nay”.

 Tớ bình luận: Đọc mớ tài liệu tham khảo trên của NDD cũng phần nào biết được mức độ đáng tin của những nghiên cứu của NDD và các cộng sự trích dẫn bên trên là như thế nào rồi!
Tóm lại, Yếu kém toàn diện, Khập khiễng, Chẳng cái nào ăn nhập với cái nào v.v... là một số từ có thể dùng để nhận xét về nghiên cứu này của NDD mà không thấy có rủi ro vì nói quá lời!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).