Friday, 11 September 2015

Trả lời về tỷ giá

Có một đồng chí (nhất định cứ xưng em, chứ không chịu để tớ gọi là đồng chí) hỏi tớ khá dài về tỷ giá. Thấy vấn đề này cũng là vấn đề đang vướng mắc ở nhiều ngưởi nên tớ mạn phép đồng chí em này đăng tải phần trả lời của tớ lên đây cho mọi người cùng tham khảo. Vấn đề đồng chí em này nêu ra liền mạch, tớ ngắt ra thành từng ý để dễ trả lời hơn.


-------------------------------------
1. Em nói:
Đầu tiên, em hoàn toàn đồng ý với quan điểm của anh là ủng hộ NHNN phá giá tiền VND càng nhiều càng tốt hoặc nới biên độ rộng ra để thị trường tự điều chỉnh.

Trả lời: Đính chính lại là tớ không chủ trương phá giá VND càng nhiều càng tốt, mà là phá linh hoạt theo mức lên giá thực so với USD và/hoặc rổ tiền tệ khác. Nếu càng níu kéo không phá giá thì hậu quả là càng phải phá mạnh.

2. Em nói:

Vấn đề em không rõ lắm là nếu thực hiện điều này, NHNN sẽ ứng phó thế nào với các "khủng hoảng" tiếp theo khi lượng dự trữ ngoại hối hiện tại quá mỏng trước các áp lực (theo thống kê, chỉ riêng trong tháng 8/2015 NHNN đã bán ra hơn 4 tỷ USD và những ngày đầu tháng 9 đã bán hơn 500 triệu, vậy theo công bố đầu tháng 8 của Thống đốc dự trữ ngoại hối có 37 tỷ USD thì hiện chỉ còn hơn 33 triệu, khoảng 9 tuần nhập khẩu)  

Trả lời: Tớ không hiểu rõ lắm mối nhân quả em nói ở đây. Theo tớ thì ngược lại, vì càng cố gắng bảo vệ tỷ giá thì NHNN càng làm hao hụt (nhanh) dự trữ ngoại hối của mình, giống như TQ hiện tại hoặc VN (từ năm trước đến hiện tại) khi "kiên quyết" bảo vệ tỷ giá. Nếu đã chấp nhận phá giá có nghĩa là NHNN không phải tung dự trữ ra để bảo vệ tỷ giá nữa, mà để VND yếu đi theo thị trường. Như vậy thì dự trữ ngoại hối không bị hao hụt đi.

3. Em nói:
Nếu phá giá 5% hoặc 10% thì nguồn cung USD hiện tại chỉ có từ NHNN không đủ đáp ứng cho:

- 12.6 tỷ USD vốn nóng của khối ngoại trên thị trường chứng khoán.
- 2 đến 3 tỷ USD vốn ngoại trong thị trường trái phiếu chính phủ (số thống kê không chính xác sau đợt bán ròng trong tháng 8 của khối ngoại)
- Dư nợ ngoại tệ của doanh nghiệp trong nước 20 tỷ USD (một số liệu khác trên thời báo kinh tế sài gòn là 25 tỷ). Áp lực mua USD trả nợ trước hạn hoặc mua hợp đồng kỳ hạn để bảo hiểm khoản vay.
- Nợ nước ngoài của chính phủ ước tính hơn 35 tỷ USD, tăng gánh nặng trả nợ khi không có nguồn thu / nguồn thu USD từ dầu thô giảm mạnh.
- Và quan trọng nhất là tâm lý gom mua USD, đầu cơ, nắm giữ của người dân và doanh nghiệp càng trầm trọng khi phá giá.

Trả lời: Như trên đã nói, việc chấp nhận phá giá (để VND yếu đi) không đồng nghĩa với việc NHNN có nghĩa vụ phải đảm bảo ngoại hối cho các nhu cầu nói trên. Ngược lại, nếu lập luận rằng nếu NHNN không đảm bảo các nghĩa vụ nói trên thì sẽ xảy ra rút vốn ngoại rồi các chủ thể kinh tế trong nước sẽ bị thiệt hại nên buộc NHNN phải đảm bảo những nghĩa vụ này thì tớ hỏi ngược lại là liệu NHNN có đảm bảo thỏa mãn tất cả các nhu cầu nói trên được không, nếu chỉ căn cứ vào dự trữ ngoại hối? BIết chắc là không đảm bảo được (và được thực tế chứng minh là vậy rồi) thì tốt nhất là buông ngay từ ban đầu, đừng để bị dồn đến chân tường rồi mới phản ứng.

4. Em nói:
Vậy, trước cầu USD lớn như vậy mà nguồn cung USD không đủ, hoặc cái "khiên" dự trữ ngoại hối của NHNN quá yếu, thì chính chủ có thể làm gì sau khi phá giá ?

Trả lời; Vậy là em đã tự có câu trả lời rồi đấy. Đã biết là không đủ nguồn cung USD và dự trữ quá yếu thì tốt nhất đừng tìm cách chống lại thị trường, mà phải thuận theo thị trường, như tớ đã viết mấy tuần trước. Thuận theo thị trường có nghĩa là hay để VND yếu đi, đừng tìm cách bảo vệ nó nữa.

5. Em nói:
Chưa kể sau phá giá, hiện tượng rút tiền VND ồ ạt khiến Ngân hàng thương mại buộc tăng lãi suất VND kéo theo lãi suất cho vay tăng làm chết nền kinh tế ? Em không rõ lắm mối quan hệ kéo theo này sau khi phá giá VND. Tại sao các nước Châu Âu hay ngay bên cạnh là Trung Quốc có thể vừa phá giá đồng nội tệ, vừa giảm lãi suất được. còn Việt Nam lại không thể ?

Trả lời: Khi phá giá VND (để VND yếu đi), NHNN sẽ hoặc (1) ngừng bán USD (ngừng thu VND về), tức là không bảo vệ tỷ giá nữa, hoặc (2) tăng cung VND. Cách 1 thì làm cung VND không bị thắt chặt, suy giảm nữa, dẫn đến lãi suất không chịu áp lực tăng lên như em và nhiều người nghĩ.

Cách 2 thì rõ ràng sẽ làm giảm lãi suất, tức là cũng ngược lại với suy nghĩ của em và nhiều người. Tóm lại, lãi suất cho vay VND giảm hay tăng là phụ thuộc vào cung tiền VND tăng hay giảm chứ không phụ thuộc vào tỷ giá ra sao cả (lúc này tỷ giá sẽ biến động theo mục tiêu lãi suất của NHNN). Ngược lại, nếu muốn thực hiện mục tiêu tỷ giá thì NHNN buộc phải "quên" mục tiêu lãi suất (nhớ lại bộ ba bất khả thi nhé).

6. Em nói:
Vậy nên em hoàn toàn đồng ý quan điểm với anh rằng NHNN nên phá giá và phá giá càng mạnh càng tốt, như thời 2011 phá 9.3%. Nhưng em lại không biết và không đoán được là sau khi phá giá lãi suất VND đi về đâu, USD ở đâu để bán cho các nhu cầu kể trên. Mong anh giúp em làm rõ.


Trả lời: Em hiểu sai tớ. Tớ không nói là càng phá mạnh càng tốt, mà luôn nói rằng đừng để VND lên giá thực quá mạnh rồi buộc phải để nó rơi tự do vì không bảo vệ được nó, theo kiểu tung sạch dự trữ ngoại hối ra rồi thì không còn gì để bảo vệ tỷ giá khỏi cuộc khủng hoảng tiền tệ nữa. Vì thế mà phải luôn linh hoạt điều chỉnh tỷ giá, đừng có ngu dại mà neo vào USD hay một đồng tiền nào đó, trong khi có chính sách tiền tệ nới lỏng quá mạnh (để lạm phát ở VND cao hơn nước ngoài).

Hơn nữa, em cũng hiểu sai hậu quả của phá giá. Phá giá thậm chí còn làm giảm lãi suất. Lãi suất chỉ tăng khi VND mất giá quá mạnh, gây hoảng loạn, buộc NHNN phải nâng lãi suất lên để giữ chân nhà đầu tư. Mà muốn tránh VND bị mất giá mạnh thì cách tốt nhất là chủ động không để nó lên giá thực quá mạnh với USD và các bản tệ khác để rồi buộc phải phá giá mạnh (buộc phải thuận theo thị trường, như tớ đã viết).


Cuối cùng, để giúp em hiểu một cách đơn giản vấn đề có nên phá giá hay không, xin gợi ý em tự trả lời câu hỏi là giữa 2 phương án (1) kiên quyết không phá giá, và tức là phải tung (sạch) dự trữ ngoại hối (vốn "mỏng như lá lúa") ra để can thiệp (và có thể nhìn thấy trước khả năng là can thiệp nhưng không lại được với thị trường, như thực tế ở nhiều nước trước đây và hiện nay); và (2) chủ động "buông" khi thấy "lực bất tòng tâm", phương án nào tốt hơn, khả thi hơn, đỡ thiệt hại hơn?

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).