Friday, 30 October 2015

Mua ngân hàng 0 đồng - đâu chỉ chuyện câu chữ (Bài đăng trên TBKTSG, 30/10/2015)

http://www.thesaigontimes.vn/137670/Mua-ngan-hang-0-dong---dau-chi-chuyen-cau-chu.html


Thêm một lần nữa đại diện Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và một số chuyên gia, quan chức khác lên tiếng khẳng định, việc mua lại các ngân hàng 0 đồng chỉ đơn thuần là quan hệ mua bán chứ không phải là quốc hữu hóa các ngân hàng này.
Thêm nữa, quan hệ mua bán này được nhấn mạnh ở chỗ là NHNN chỉ mua cổ phiếu của các ngân hàng này (mua theo giá thị trường được xác định ở mức 0 đồng), chứ không phải là mua (bản thân) các ngân hàng này.


Xem ra vấn đề này không phải chỉ là chuyện câu chữ, mặc dù về nguyên nhân và bản chất thì đã rõ!
 
Về nguyên nhân, với vai trò là người “cầm trịch”, bảo đảm sự an toàn cho hệ thống ngân hàng, được giao trách nhiệm cũng như quyền lực trong các quy định pháp luật, việc NHNN quyết định mua lại một số ngân hàng với giá 0 đồng như vừa qua hoàn toàn có thể được coi là cần thiết và hợp pháp.
 
Về bản chất, trên danh nghĩa NHNN đúng là chỉ mua lại (bắt buộc toàn bộ) cổ phiếu của các ngân hàng 0 đồng này, chứ không phải mua lại các ngân hàng đó, và mua với giá là 0 đồng. Nhưng bằng việc mua lại này, NHNN đã chính thức thế chân toàn bộ cổ đông hiện hữu của các ngân hàng này, dù là cổ đông lớn hay nhỏ, tổ chức hay cá nhân, để trở thành chủ sở hữu duy nhất của chúng, với tên gọi chính thức là ngân hàng thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên (XYZ), do Nhà nước làm chủ sở hữu.
 
Do đó, việc chuyển đổi hình thức sở hữu ở các ngân hàng này từ sở hữu tư nhân (cổ phần) sang thuộc sở hữu hoàn toàn của Nhà nước với đại diện là NHNN thì về bản chất chính là, phải được gọi là quốc hữu hóa - biến một tài sản nào đó thuộc sở hữu phi nhà nước thành sở hữu nhà nước (bằng những phương pháp như trưng thu, tịch thu, mua lại), cho dù tài sản này có thể không còn giá trị gì.
Việc chuyển đổi hình thức sở hữu ở các ngân hàng từ tư nhân (cổ phần) sang thuộc sở hữu hoàn toàn của Nhà nước, về bản chất, phải được gọi là quốc hữu hóa, cho dù tài sản này có thể không còn giá trị gì.
 
Tương tự, việc mua lại toàn bộ cổ phiếu của các ngân hàng này để thành chủ sở hữu duy nhất của chúng thì thực chất cũng là mua lại bản thân các ngân hàng này, và việc này về bản chất cũng giống như việc một nhà đầu tư đứng ra thâu tóm toàn bộ cổ phiếu của một công ty nào đó, và người này sẽ được coi là đã mua lại chính công ty đó (và mọi thứ liên quan đến nó như các quyền lợi và nghĩa vụ).


Vậy thì có lý do nào để các cơ quan chức năng e ngại không muốn nhìn nhận đúng bản chất của sự việc mua lại ngân hàng 0 đồng này?
 
Lý do đầu tiên có thể nghĩ đến là khái niệm quốc hữu hóa thường gắn liền với chuyện tổn thất cho ngân sách nhà nước. Khi quốc hữu hóa một công ty nào đó đang ăn nên làm ra thì đương nhiên chẳng người nộp thuế nào phàn nàn, nếu như phí tổn bỏ ra là thấp hơn những gì mà công ty này sẽ mang lại cho ngân sách. Tất nhiên là chuyện “không dưng” đi quốc hữu hóa những công ty tốt này là thuộc một chủ đề khác.
 

Nhưng ngược lại, nếu các công ty bị quốc hữu hóa hoạt động yếu kém, thua lỗ, gây ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế nói chung và khi bị Nhà nước mua lại để biến thành sở hữu nhà nước thì Nhà nước sẽ phải dùng ngân sách để xử lý các nghĩa vụ nợ nần, dùng ngân sách để rót vốn cho chúng hoạt động và lành mạnh trở lại...
 
Nói cách khác, cho dù trong trường hợp NHNN mua lại (cổ phiếu của) các ngân hàng 0 đồng với giá 0 đồng thì NHNN vẫn có thể phải tiêu tốn một số tiền nào đó để vực các ngân hàng này hoạt động lành mạnh trở lại để có thể bán đi thu hồi vốn.
 
Lấy ví dụ trường hợp của Ngân hàng Xây dựng (VNCB), NHNN cho biết họ sẽ “đưa ra 40.000 tỉ đồng để đưa VNCB trở lại hoạt động bình thường”. Vấn đề đáng nói còn lại ở đây chỉ là về nguồn gốc của số tiền này. Cho dù nó không được coi là tiền từ ngân sách thì ít nhiều nó cũng dính dáng đến ngân sách ở một khía cạnh nào đó, đơn giản vì là tiền do NHNN “đưa ra”! Minh bạch hóa nguồn gốc, mục đích sử dụng, khả năng thu hồi vốn, mức độ tác động thế nào đến ổn định vĩ mô của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng... không phải là một trách nhiệm dễ chịu và dễ thực hiện với các cơ quan chức năng khi phải sử dụng đến vốn (liên quan đến) ngân sách.
 
Lý do thứ hai dẫn đến chuyện không muốn thừa nhận việc mua lại là quốc hữu hóa có thể xuất phát từ e ngại rằng sẽ tạo ra hình ảnh nhà nước can thiệp quá sâu rộng và mạnh vào các hoạt động kinh tế trong nước. Trên hết, trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia TPP, nếu thừa nhận quốc hữu hóa một số ngân hàng thương mại thì Việt Nam sẽ phải đối mặt với một số rủi ro.
 
Theo nguyên tắc chính phủ không được ưu đãi riêng cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong khuôn khổ của TPP, có thể thấy Việt Nam sẽ không được phép phân biệt đối xử giữa các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước (SOCB) với các ngân hàng tư nhân và nước ngoài khác, vì các SOCB về bản chất là các DNNN. Nếu Chính phủ Việt Nam có những hành động phân biệt đối xử nào đó giữa các SOCB với các ngân hàng tư nhân và nước ngoài khác thì những ngân hàng này có quyền kiện Chính phủ Việt Nam ra các tòa trọng tài quốc tế.


Điều đáng nói là ngoài những SOCB truyền thống như Vietcombank, VietinBank, BIDV, và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay Việt Nam còn có thêm một vài ngân hàng có thể coi là SOCB mới, chính là những ngân hàng bị NHNN mua lại với giá 0 đồng như VNCB. Vì các SOCB mới này vẫn đang trong quá trình được NHNN tái cơ cấu và vực dậy bên bờ vực phá sản nên đều đòi hỏi NHNN phải rót thêm vốn, tạo thêm cơ chế, trao thêm nhiều cơ hội kinh doanh để chúng mau bình phục, lớn mạnh trở lại.
 
Tất cả những đối xử khác biệt này là cơ sở để các ngân hàng khác, nhất là ngân hàng nước ngoài khởi kiện. Khả năng này sẽ buộc NHNN phải thay đổi cách thức tiếp cận và phương pháp thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng trong tương lai gần, kể cả phải sửa đổi lại những quy định luật pháp có liên quan đến tái cơ cấu và xử lý ngân hàng yếu kém như Quyết định 48/2013/QĐ-TTg.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).