Saturday, 26 December 2015

Cuộc chiến tỷ giá: NHNN không còn mấy lựa chọn (Bài đăng trên TBKTSG, 26/12/2015, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/140207/Ty-gia-khong-con-may-lua-chon.html

Tối ngày 17/12, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tuyên bố hạ lãi suất tiền gửi USD của cá nhân xuống còn 0%/năm từ mức 0,25%/năm với mục đích là để tiếp tục thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm thực hiện chủ trương chống đô la hóa của Chính phủ, chuyển từ quan hệ huy động - cho vay bằng ngoại tệ sang quan hệ mua - bán bằng ngoại tệ. Nhưng vì hành động này xảy ra ngay sau khi Fed quyết định nâng lãi suất USD lên thêm 0,25 điểm phần trăm nên có thể hiểu rằng thực chất của hành động này là nhằm tăng giãn cách lãi suất tiền gửi giữa VND và USD ở Việt Nam thêm một bước nữa để giúp giảm áp lực lên tỷ giá VND vốn đã kịch trần từ mấy hôm trước đó.
Không mấy tác dụng

Điều đáng chú ý là NHNN đã tiến hành giảm lãi suất tiền gửi USD của tổ chức và cá nhân trước đó từ ngày 28/9 (lãi suất tiền gửi USD của tổ chức từ 0,25% xuống còn 0%, của cá nhân từ 0,75% xuống còn 0,25%) trước áp lực phá giá dồn nén đến từ việc Trung Quốc liên tục phá giá đồng NDT. Nhưng hành động này trên thực tế cho thấy hầu như không có tác dụng vì tỷ giá VND vẫn đứng ở mức cao, thậm chí còn chạm trần nhiều lần sau đó. Cũng dễ hiểu chuyện này vì thực ra không chỉ mức độ hạ lãi suất tiền gửi USD là tương đối nhỏ (0,25 và 0,5 điểm phần trăm tương ứng cho doanh nghiệp và cá nhân), mà còn vì trong số người nắm giữ USD chỉ có một phần nhỏ là những người nắm vì mục đích hưởng lãi suất USD và trở nên nhạy cảm với biên độ tăng giảm nhỏ như vậy. Đa phần cá nhân và tổ chức nắm giữ USD trong bối cảnh lãi suất thấp là vì hoặc họ kỳ vọng VND sẽ bị mất giá trong tương lai gần ở mức độ lớn hơn nhiều, hơn cả mức chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa VND và USD, hoặc vì họ có nhu cầu thực sự với USD như để thanh toán trong tương lai, cũng như do nhu cầu phòng ngừa rủi ro lạm phát (so với nếu giữ tài sản dưới dạng VND)…
So với những mục đích trên thì có thể thấy việc cắt giảm lãi suất tiền gửi USD 0,25-0,5 điểm phần trăm hồi tháng 9 và thêm 0,25 điểm phần trăm như trong tuần qua là hoàn toàn không đủ kích thích hoặc buộc được các cá nhân và tổ chức có USD chuyển đổi số USD nắm giữ của mình sang VND. Cụ thể hơn, nếu, ví dụ, người ta kỳ vọng rằng VND sẽ bị mất giá thêm ít nhất 2% nữa trong những ngày cuối năm nay hoặc sang tháng 1 năm sau thì có lẽ không mấy ai lại nhanh chóng chuyển đổi số USD nắm giữ của mình sang VND ngay thời điểm hiện tại rồi gửi vào ngân hàng hưởng lãi cho dù ở mức lãi suất quy ra là 0,6%/tháng.

Không còn nhiều lựa chọn và dư địa
Đến đây, một câu hỏi được đặt ra là vậy tại sao NHNN vẫn quyết định tiến hành những bước đi như vậy (giảm lãi suất tiền gửi USD) cho dù họ có thể biết rõ rằng hiệu quả sẽ không đáng kể? Lý do có thể là có còn hơn không và NHNN thực ra cũng không còn mấy công cụ nào hữu hiệu (hơn).

Như trên đã nói, cho dù có thể chỉ là một phần nhỏ, nhưng vẫn có một số cá nhân và tổ chức nắm giữ USD với mục đích là hưởng lãi suất USD trong một thời gian nào đó. Do đó, khi lãi suất tiền gửi USD bị hạ xuống 0% thì một số trong bộ phận những cá nhân và tổ chức này sẽ cân nhắc việc chuyển đổi USD nắm giữ sang các loại hình tài sản khác, trong đó có tài sản bằng VND. Như vậy, việc hạ lãi suất tiền gửi USD vẫn có tác dụng ở một mức độ nào đó dù có thể là không đáng kể, và nếu “tích tiểu thành đại”, sử dụng “đồng bộ” nhiều biện pháp khác thì NHNN hy vọng bàn tay can thiệp của mình sẽ có trọng lượng hơn. Quan trọng hơn, ngoài công cụ kinh tế liên quan đến lãi suất như thế này, NHNN không còn mấy lựa chọn khác, hoặc không còn mấy dư địa cho những lựa chọn đó.
Về những lựa chọn mang tính kinh tế, để bảo vệ tỷ giá thì NHNN có thể nâng lãi suất tiền gửi VND, một biện pháp cũng có tác dụng như hạ lãi suất tiền gửi USD ở góc độ là sẽ tăng giãn cách lãi suất VND và USD để tăng mức hấp dẫn tương đối của VND so với USD. Nhưng việc nâng lãi suất VND trong bối cảnh hiện tại là không thể, chí ít vì lãi suất VND đã ở mức cao và đang có xu hướng tăng cao hơn, làm cho lãi suất ở Việt Nam cao hơn rất nhiều so với khu vực và thế giới và mức lạm phát ở Việt Nam.

Một lựa chọn mang tính kinh tế khác là NHNN bán USD để bảo vệ tỷ giá. Nhưng lựa chọn này cũng đã tỏ ra là không còn mấy dư địa cho NHNN khi dự trữ ngoại hối của NHNN đã sụt giảm mạnh trong những tháng qua khi NHNN phải can thiệp hỗ trợ tỷ giá.
Do đó, để có thể khuyến khích, chính xác ra là ép những đối tượng đang nắm giữ USD chuyển đổi từ USD sang VND thì cần phải có những biện pháp mạnh hơn, phần nhiều mang tính hành chính cưỡng chế. Ví dụ, NHNN có thể ra một chỉ thị yêu cầu các tổ chức tín dụng khi nhận tiền gửi USD của tổ chức và cá nhân thì không những không trả lãi mà còn thu phí quản lý ngoại tệ, với mục đích làm cho người nắm giữ USD sẽ chỉ còn cách cất USD dưới dạng tiền mặt ở trong két sắt tại gia nếu muốn đầu cơ hay nắm giữ USD cho chi tiêu sau này. Nhưng thực tế cho thấy vẫn có nhiều ngân hàng sẵn sàng chấp nhận “đi đêm” với khách hàng có USD để huy động được USD. Nên dù NHNN có hạ lãi suất hay bắt phải tính phí gửi USD thì cả ngân hàng và khách hàng vẫn tìm được tiếng nói chung ngoài tầm kiểm soát của NHNN.

Hoặc NHNN cũng có thể tăng cường biện pháp kết hối, buộc cá nhân và tổ chức có nguồn thu USD qua hệ thống ngân hàng phải bán ngay số ngoại tệ đó cho ngân hàng với tỷ giá quy định. Biện pháp này đã được thực hiện trước đây nhưng cũng tỏ ra không có mấy tác dụng vì nó sẽ kích thích sự phát triển của hệ thống ngân hàng ngầm chuyển tiền vào ra khỏi Việt Nam.
Tóm lại, NHNN đang ngày càng gặp khó khăn trong cuộc chiến tỷ giá ở Việt Nam chống lại hai “thế lực” lớn từ nước ngoài là lãi suất USD tăng ở Mỹ và NDT tiếp tục bị phá giá ở Trung Quốc. Cuộc chiến không cân sức này có lẽ sắp đến hồi kết khi các lựa chọn chính sách có thể sử dụng của NHNN hoặc đã được sử dụng hoặc không còn mấy dư địa. Trong bối cảnh này, NHNN nên chủ động tính toán để chọn thời điểm “buông” sao cho có lợi nhất không chỉ cho uy tín còn lại của NHNN mà còn giảm thiểu thiệt hại cho nền kinh tế.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).