Wednesday, 16 December 2015

Điều gì đang xảy ra với tỷ giá? (Bài đăng trên CafeF, 15/12/2015, bản gốc)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/dieu-gi-dang-xay-ra-voi-ty-gia-20151215161030682.chn

Tỷ giá đã chính thức chạm trần tại các ngân hàng thương mại mấy hôm nay, bất chấp Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã nhiều lần lên tiếng cho đến tận gần đây khẳng định lập trường không điều chỉnh tỷ giá, và rằng những biến động về tỷ giá gần đây chỉ là do tâm lý và đã được phản ánh hết vào những đợt điều chỉnh tỷ giá trước đây.
Cái tâm lý mà NHNN đề cập đến có lẽ là tâm lý đầu cơ, lo sợ, hoặc kỳ vọng rằng Fed vào hôm nay hoặc ngày mai sẽ quyết định nâng lãi suất USD lên lần đầu tiên trong nhiều năm và do đó sẽ kéo theo sự mất giá của VND. Bởi vậy, trước viễn cảnh VND sẽ mất giá như vậy, đương nhiên là người đang nắm giữ tài sản bằng VND mà lại có nợ hay có nhu cầu chi tiêu bằng USD thì lo sợ rằng sau này sẽ phải tốn nhiều VND hơn để mua từng đó USD trả nợ/chi tiêu, còn người không có nợ hay có nhu cầu về USD thì lại phát sinh tâm lý đầu cơ, mua gom USD ngay bây giờ để mấy hôm nữa USD lên giá bán đi sẽ thu được nhiều VND hơn. Hoặc đơn giản hơn là những người lo xa, kỳ vọng VND sẽ mất giá nên sẽ kéo theo lạm phát, làm cho tài sản của mình bằng VND teo tóp theo thời gian, nên muốn đi trước thị trường bằng cách mua USD và coi đó như một tài sản phòng tránh lạm phát ở Việt Nam.
Dù là cái tâm lý nào trong số những phản ứng như trên của các chủ thể của thị trường thì điều cần thừa nhận là những cái tâm lý đó hoàn toàn là duy lý, có lý, hợp pháp, và là điều đương nhiên sẽ phải xảy ra. Và cũng cần phải thừa nhận rằng những phản ứng này không chỉ có ở Việt Nam mà còn ở mọi nơi trên thế giới nếu trong cùng một hoàn cảnh như Việt Nam. Nếu không vậy thì không thể có chuyện nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới đã (buộc phải) thuận theo áp lực của thị trường để đồng nội tệ của họ mất giá so với USD mỗi khi có động thái mới từ Fed.
Do đó, Việt Nam cũng đã đến lúc phải nên thừa nhận rằng cái gọi là tâm lý chính là một lực lượng gây ảnh hưởng quan trọng, và thậm chí là rất quan trọng lên định hướng chính sách của NHNN. Đương nhiên là cũng giống như mọi ngân hàng trung ương khác, họ đều muốn có một sự độc lập, tự chủ trong chính sách tiền tệ của mình. Nhưng điều khác biệt là sự độc lập tự chủ này mâu thuẫn ở mức độ nào với xu hướng và đòi hỏi của thị trường, được hậu thuẫn bằng cái gì, mạnh đến đâu. Cho nên, rất nhiều khi các ngân hàng trung ương thế giới, kể cả của những nước lớn như Anh, lúc đầu ra sức đối đầu với thị trường bằng không chỉ lời nói (thuyết phục) mà bằng cả tiềm lực vật chất và các công cụ hành chính của họ, nhưng để rồi họ vẫn phải thừa nhận thua và chấp nhận thả nổi thị trường với tổn thất lớn về vật chất và uy tín.
Trở lại với Việt Nam, ngoài sự hiển nhiên và hợp lý của các loại tâm lý nói trên, điều đáng chú ý là những tâm lý này không phải chỉ mới xuất hiện, cần phải có thời gian thử thách để biết chúng có là tâm lý nhất thời hay không. Thực ra chúng đã tồn tại hơn cả năm nay rồi và chính bởi thế mà NHNN đã phải chấp nhận điều chỉnh tỷ giá vài lần trong năm qua và năm nay, phá vỡ cam kết của mình.
Hơn nữa, bên cạnh tâm lý hình thành từ các động thái của Fed, một loạt các tâm lý tương tự cũng được hình thành dựa trên những bước đi quyết đoán của nhà cầm quyền Trung Quốc liên quan đến tỷ giá Nhân dân tệ (RMB) trong mấy tháng gần đây. Chính NHNN cũng đã phải thừa nhận việc họ điều chỉnh tỷ giá hồi tháng 8 vừa qua là do Trung Quốc phá giá RMB. Cho dù mức độ điều chỉnh tỷ giá của NHNN là vẫn chưa đủ, nhưng đã có một số chuyên gia và quan chức Việt Nam mau mắn lên tiếng khẳng định rằng Trung Quốc sẽ không phá giá RMB nữa, và có lẽ đây cũng là một phần cho lý do đằng sau khẳng định lặp đi lặp lại của NHNN về chuyện không điều chỉnh tỷ giá VND đến cả đầu năm sau.
Nhưng thực tế đã diễn biến quá nhanh và phức tạp so với kỳ vọng của những người trong cuộc. Trung Quốc lại liên tục phá giá RMB dù ở biên độ nhỏ bất chấp nó mới được công nhận chính thức đưa vào rổ tiền tệ dự trữ quốc tế SDR của IMF. Do nền kinh tế của Trung Quốc tiếp tục giảm tốc nên sự mất giá của RMB có lẽ sẽ không dừng lại ở mức hiện tại.
Trong bối cảnh cùng lúc chịu 2 “mũi công” trong khi tiềm lực vật chất (kho dự trữ ngoại hối) của NHNN đã giảm đáng kể thì tương quan lực lượng như thế nào đã trở nên rõ ràng hơn nhiều so với mấy tháng trước đây. Công cụ chính sách còn lại mà NHNN có thể trông chờ vào là công cụ hành chính, như chống đầu cơ, găm giữ ngoại tệ. Nhưng phần vì một phần trong số các biện pháp hành chính đã được thực hiện, phần vì tính hai mặt của các biện pháp này (sẽ gây khó khăn và đảo lộn môi trường kinh doanh của doanh nghiệp và người dân) nên tính hữu dụng của các biện pháp hành chính cũng chỉ có hạn, không thể lạm dụng thêm và cũng không thể trông mong hơn được, như kinh nghiệm của các nước phải vật lộn với thâm hụt cán cân thương mại và thanh toán, và ngay của Việt Nam trước đây.
Thị trường hiểu rõ tình thế của NHNN và nhìn trước được kết cục sẽ xảy ra không lâu nữa nên tỷ giá VND cứ thế mà kịch trần, và rồi sẽ đội trần trong những giao dịch ngầm được hợp pháp hóa như tư vấn, vay vốn v.v... Trong hoàn cảnh này điều mà NHNN có thể làm là hy vọng Fed sẽ hoãn vô thời hạn việc tăng lãi suất USD và Trung Quốc thôi không phá giá RMB nữa. Lúc đó tỷ giá có thể quay về dưới mức trần, và thị trường lại được một phen nữa làm cho tin rằng chẳng có lý do gì để phá giá vì mọi thứ vẫn ổn (FDI và kiều hối vẫn chảy vào mạnh, cán cân thanh toán vẫn thặng dư...).
Nhưng NHNN sẽ có phương án gì ngoài chuyện phá giá VND nếu những hy vọng trên không xảy ra? Và vì ý nghĩa/mục đích gì mà cố gắng cầm cự không phá giá VND ngay trong tháng 12 này để rồi rất có thể sẽ phải phá vào đầu tháng 1 năm sau? Có lẽ NHNN cũng nên để thị trường hiểu rõ hơn về những vấn đề này thì mới có thể tăng thêm sức nặng cho mỗi hành động của mình.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).