Wednesday, 9 December 2015

Những “lỗ đen” ngân sách (Bài đăng trên TBKTSG, 10/12/2015, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/139603/Nhung-lo-den-ngan-sach.html


Việc những cơ quan công quyền sống bằng ngân sách vung tay quá trán đến mức hết cả tiền trả lương và thanh toán các khoản nợ như ở Ủy ban Nhân dân Cà Mau và Thành ủy Bạc Liêu đã bộc lộ thêm những góc khuất trong chi tiêu ngân sách. Khái quát hóa, với tình trạng chi tiêu vô nguyên tắc, và thậm chí cũng chẳng “đúng quy trình”, như thế này ở quy mô cả nước thì ngân sách nhà nước không thâm hụt mới là chuyện lạ.

Lấy trường hợp của Thành ủy Bạc Liêu để minh họa. Theo báo Tiền Phong thuật lại thì khi bàn giao giữa lãnh đạo cũ và lãnh đạo mới, trên sổ sách ghi còn 2,748 tỷ đồng quỹ nhưng thực tế không còn tiền. Như vậy, chỉ có 3 khả năng xảy ra ở đây. Khả năng thứ nhất, việc theo dõi, ghi nhận thu chi (công tác kế toán) đã có những bút toán gian dối. Khả năng thứ hai là thủ quỹ đã thụt két (nếu khả năng đầu là sai). Hoặc khả năng cuối cùng là cả công tác kế toán lẫn thủ quỹ đều có vấn đề, gian dối. Đến khi vụ việc vỡ lở thì chỉ thấy nhắc đến rằng Ủy ban Kiểm tra tỉnh ủy Bạc Liêu “cho người đi kiểm tra”. Như vậy, dù là khả năng nào xảy ra thì điều có thể rút ra được ở đây là công tác giám sát tài chính của những cơ quan công quyền như thế này là cực kỳ yếu kém, hầu như trên thực tế không có cơ quan chức năng nào chịu trách nhiệm ngoài chính người trong cuộc là các cơ quan công quyền đó, có lẽ vì không ai dám động đến họ, hoặc theo kiểu không ai tự ghè đá vào chân mình. Do đó, các cơ quan công quyền như Tỉnh ủy Bạc Liêu trên thực tế đã biến thành những lỗ đen về chi tiêu ngân sách và chẳng ai biết điều gì đang xảy ra trong đó, trừ những người có trách nhiệm của chúng, bất chấp sự tồn tại của hàng rừng thủ tục và quy trình về chi tiêu ngân sách cũng như hàng loạt cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát.

Ngoài vấn đề gian dối, vô nguyên tắc, chuyện chi tiêu của Tỉnh ủy Bạc Liêu hay của Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau còn làm toát lên một tinh thần “bất khuất” ở cái chỗ là mặc dù biết rằng đã có nợ đọng từ các năm trước chuyển sang nhưng việc chi tiêu vẫn cứ được đẩy mạnh để rồi không những nợ đọng chưa được giải quyết mà còn phát sinh thêm nợ mới.
Nghĩ đi nghĩ lại thì chỉ thấy có 2 lý do có thể giải thích cho tình trạng này. Thứ nhất, những người trong cuộc đã và đang ý thức rất rõ là họ tiêu tiền của người khác nên chẳng việc gì phải chi tiêu theo kiểu vun vén như từ túi tiền của bản thân. Mà để hợp thức hóa những khoản chi tiêu sao cho “đúng quy trình” thì không ai giỏi hơn họ. Thứ hai, họ cho rằng những cơ quan như của họ không thể bị cho phá sản hay đóng cửa hoặc “phạt vạ” như với doanh nghiệp tư nhân, nên kiểu gì thì những khoản nợ đọng sẽ được ngân sách cứu giúp. Nếu đúng vậy thì chừng nào Việt Nam chưa khống chế được 2 loại rủi ro đạo đức này (tiêu tiền của người khác, và quá quan trọng để bị cho đóng cửa) thì chừng đó ngân sách sẽ còn bị chịu áp lực bội chi ngày càng gia tăng.

Nhìn rộng ra trên thế giới, không chỉ ở Việt Nam mà hầu như mọi nước đều có những vấn đề và những rủi ro liên quan đến chi tiêu công như vậy. Điều khác biệt ở một số nước có chính sách tài khóa lành mạnh là chi tiêu ngân sách được bạch hóa, gắn với trách nhiệm giải trình và theo dõi của dư luận. Thêm nữa, kỷ luật chi tiêu được chế tài rõ ràng, nếu vi phạm thì cứ chiểu theo luật mà xử lý.

Khi việc chi tiêu được bạch hóa thì người có quyền lập và thực hiện chi tiêu sẽ không còn tự ý “vẽ” ra các khoản chi và muốn chi bao nhiêu thì chi. Họ sẽ trở nên có trách nhiệm hơn với việc chi tiêu như là từ tiền túi của mình, dù là từ tiền ngân sách, nếu không muốn bị chất vấn, bị phê phán trên các phương tiện thông tin đại chúng để rồi bị mất chức. Nhưng việc bạch hóa này sẽ khó thực hiện ở Việt Nam vì vẫn còn nhiều lỗ đen mà công luận không được phép dòm ngó đến.

Nếu kỷ luật chi tiêu được chế tài và xử lý nghiêm chỉnh thì thậm chí chính quyền phải đóng cửa hoạt động nếu để thâm hụt ngân sách đến mức độ không còn tiền để duy trì các hoạt động thường xuyên – chuyện xảy ra ở Mỹ hồi mấy năm trước. Ở đây chẳng có chuyện quá quan trọng để bị đóng cửa. Nhưng ở Việt Nam thì đến việc đóng cửa, cho phá sản doanh nghiệp nhà nước đã là cả một câu chuyện dài chưa có hồi kết, nói chi đến các cơ quan công quyền.

Và nếu kỷ luật chi tiêu được chế tài và xử lý nghiêm thì sẽ khó có chuyện mấy tỷ đồng bốc hơi đi đâu mà không ai biết trong cả một thời gian dài, cho đến khi phải bàn giao sang nhiệm kỳ mới thì mới lộ tẩy như ở Bạc Liêu. Những cá nhân và cơ quan liên đới đến chuyện này chắc chắn sẽ bị những hình phạt thích đáng của pháp luật ở các nước khác chứ không có chuyện cảnh cáo rồi... hòa như ở Việt Nam.

Nói tóm lại, nhìn từ Bạc Liêu và Cà Mau, chuyện lạm chi ngân sách và gia tăng nợ công sẽ khó hy vọng một bước chuyển biến tích cực ở Việt Nam nếu các giải pháp chỉ tập trung vào bổ sung và hoàn thiện các quy trình hay kêu gọi nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức liên đới. Điều thiếu vắng và cần phải làm ngay là phải minh bạch hóa tối đa chi tiêu ngân sách ở tất cả các cấp (và cũng qua đây công luận sẽ thấy rõ cơ quan nào, tổ chức nào xứng đáng được hưởng bầu sữa ngân sách, và cơ quan nào, tổ chức nào là ăn bám, vô dụng), giảm thiểu các lỗ đen mặc nhiên được thừa nhận cho đến nay, và thay những biện pháp chế tài có như không (như cảnh cáo, phê bình...) bằng những chế tài mang tính trừng phạt mạnh và nghiêm khắc vào các cá nhân và tổ chức vi phạm.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).