Friday, 8 January 2016

Cơ chế tỷ giá mới: liệu có làm nên chuyện? (Bài đăng trên TBKTSG, 9/1/2016, bản gốc)


http://www.thesaigontimes.vn/140790/Co-che-ty-gia-moi-lieu-co-lam-nen-chuyen.html

Bắt đầu từ ngày 4/1/2016, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thực hiện công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam (VND) với đô la Mỹ. Tỷ giá trung tâm này, được NHNN công bố hàng ngày (ở mức 21.896 VND/đô la Mỹ vào ngày 4/1), sẽ là cơ sở để các tổ chức tín dụng xác định tỷ giá mua, tỷ giá bán của VND với đô la Mỹ.
Theo NHNN, tỷ giá trung tâm được xác định trên cơ sở tham chiếu diễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số đồng tiền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với Việt Nam, các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ. Do đó, NHNN cho rằng, thay cho cách điều hành tỷ giá theo biên độ dao động trước kia, cách thức điều hành tỷ giá mới cho phép tỷ giá biến động linh hoạt hàng ngày theo diễn biến cung cầu ngoại tệ trong nước, biến động trên thị trường thế giới, nhưng vẫn đảm bảo vai trò quản lý của NHNN theo định hướng điều hành chính sách tiền tệ.
Như vậy, đúng như kỳ vọng của thị trường và giới đầu cơ, NHNN, sau một thời gian dài kiên quyết không thả lỏng tỷ giá trong một cơ chế “neo” tỷ giá không mấy phản ánh đúng điều kiện thực tế trên thị trường ngoại hối vốn đã và đang bị tác động mạnh bởi những xung lực từ bên trong lẫn bên ngoài, đã phải chấp nhận chuyển sang một cơ chế tỷ giá mới, có thể điều chỉnh hàng ngày. Nói cách khác, cơ chế này cho phép họ có thể phá giá (“điều chỉnh” tỷ giá) khi cần hoặc bị bắt buộc mà không sợ bị ràng buộc bởi bất cứ một cam kết hay quyết tâm nào, chẳng hạn không phá giá quá 2%/năm, như trước đây nữa.
Điều đáng quan tâm là liệu cơ chế tỷ giá mới có thật sự khác biệt so với cơ chế tỷ giá cũ hay không, và nó có giúp ích nhiều cho NHNN trong việc “cầm cương” tỷ giá hay không.
Về cơ bản, 2 cơ chế tỷ giá mới và cũ thực sự không khác biệt đáng kể. Ở cơ chế tỷ giá cũ, tỷ giá được xác định dựa trên tỷ giá bình quân liên ngân hàng hàng ngày và cộng/trừ thêm một biên độ ấn định trong từng thời kỳ. Trong cơ chế tỷ giá mới, thay vì tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá giao dịch trên thị trường được dựa trên tỷ giá trung tâm công bố hàng ngày, và cũng được cộng/trừ thêm một biên độ ấn định (hiện tại dường như vẫn là 3% quanh tỷ giá trung tâm).
Nói cách khác, nếu muốn thì trong cơ chế tỷ giá cũ NHNN vẫn có thể “điều chỉnh linh hoạt” tỷ giá hàng ngày thông qua việc điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng mà không cần phải chuyển sang cơ chế sử dụng tỷ giá trung tâm. Nhưng thực tế thì NHNN đã không hề làm vậy ít nhất là trong 4 tháng cuối của năm 2015, với tỷ giá bình quân liên ngân hàng mà họ công bố liên tục bất động ở mức 21.890 VND/đô la Mỹ. Cũng có thể đoán được lý do và thông cảm với cái khó của NHNN trong thời gian qua bởi họ đã trót cam kết không điều chỉnh tỷ giá quá một biên độ/ngưỡng ấn định nên nếu họ điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng (làm VND yếu đi so với đô la Mỹ) thêm nữa thì cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận phải phá giá VND, chấp nhận tự phá vỡ cam kết của chính mình.
Bởi vậy, cho dù cơ chế tỷ giá mới có phức tạp hơn, tỏ ra “hiểu” thị trường hơn, nhưng tỷ giá trung tâm hàng ngày trên thực tế hoàn toàn vẫn có thể bất động về cơ bản trong suốt một thời gian như trong cơ chế cũ nếu nó đã vượt quá một ngưỡng tối đa mà NHNN có thể chấp nhận được.
Điểm khác biệt duy nhất ở đây là các yếu tố đưa vào để xác định tỷ giá trung tâm tỏ ra phức tạp hơn tỷ giá bình quân liên ngân hàng trước đây vì ngoài yếu tố tỷ giá bình quân liên ngân hàng (và là bình quân gia quyền, chứ không phải là bình quân thông thường như trước đây) còn có 2 yếu tố khác là biến động tỷ giá của một rổ tiền tệ và các cân đối vĩ mô phù hợp với chính sách tiền tệ của NHNN. Nhưng cũng chính vì sự kết hợp không (thể) theo một công thức tính toán nhất quán nào, ví dụ như dựa vào tỷ trọng cố định, của 3 yếu tố này, đặc biệt là yếu tố thứ 3 vốn rất định tính, nên có thể nói tỷ giá trung tâm vẫn sẽ mang nặng tính chủ quan và ý chí áp đặt của NHNN chứ không nhất thiết là kết quả của một sự tính toán định lượng cụ thể, phản ánh chính xác chênh lệch cán cân cung cầu ngoại tệ thực tế trên thị trường (gồm cả yếu tố “tâm lý” mà NHNN hay viện dẫn đến).
Do đó, có lẽ động cơ thực sự đằng sau việc công bố cơ chế tỷ giá mới của NHNN và đồng thời là điểm “cứu rỗi” cho chính sách tỷ giá của NHNN chính là nhờ có việc tuyên bố chuyển sang cơ chế tỷ giá gọi là mới này mà NHNN đã có một cái cớ chính thức để nhảy ra khỏi cái vòng kim cô về tỷ giá tự họ vẽ ra để trói mình như trước đây, nhờ đó có thể rảnh tay phá giá VND (dần từng bước) hơn nữa so với đô la Mỹ từ mức quá cao như hiện tại vốn đang gây hại cho nền kinh tế nói chung và cho quỹ dự trữ ngoại hối nói riêng của NHNN trong cơ chế tỷ giá cũ dựa trên những cam kết neo tỷ giá từ đầu năm.
Có thể nói điều hữu ích trên gần như là đáng kể duy nhất đối với chính sách tỷ giá của NHNN. Có luồng ý kiến cho rằng cơ chế tỷ giá mới sẽ triệt tiêu sự đầu cơ đô la Mỹ vì NHNN có thể hôm nay tuyên bố một tỷ giá trung tâm, mai lại tuyên bố một tỷ giá trung tâm khác (thấp hơn) gây bất lợi cho giới đầu cơ găm giữ đô la Mỹ chờ giá lên. Nhưng thông thường, giới đầu cơ chỉ găm giữ đô la khi họ nhìn thấy xu hướng mất giá rõ nét của VND, thể hiện ở những bất cân đối vĩ mô như thâm hụt cán cân thương mại và thanh toán, chênh lệch lạm phát trong và ngoài nước, sụt giảm tăng trưởng, và sự lên giá thực của VND (nhất là khi có biến động ngoại lai) v.v… Do đó, cho dù NHNN có cố tình “chơi khăm” giới đầu cơ bằng việc công bố tỷ giá trung tâm theo chiều ngược nhau qua mỗi ngày thì cái sự làm khó này cũng chỉ mang tính thời điểm, không thể kéo dài từ ngày này sang ngày khác, tuần này sang tuần khác, ở một mức đáng kể. Cuối cùng thì NHNN cũng sẽ phải tuân theo cuộc chơi bày sẵn trên thị trường, để cho tỷ giá trung tâm phản ánh sát thực hơn xu hướng mà thị trường và giới đầu cơ kỳ vọng. Điều này được thể hiện rõ qua cuộc chiến tỷ giá giữa NHNN với các lực lượng thị trường trong và ngoài nước trong năm vừa qua.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).