Thursday, 4 February 2016

Cú ngoại kích mang tên HỘI NHẬP (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, số Tết, 3/2/2016, bản gốc)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=367080

Năm 2015 sắp qua, khép lại hàng loạt sự kiện hội nhập của Việt Nam mà điển hình nhất trong số đó là việc hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, TPP. Lo âu cũng có, nhưng lạc quan, phấn khởi và hân hoan là nhiều hơn trên các khuôn mặt của từ quan chức, chuyên gia đến người dân thường.
Không lạc quan và hân hoan sao được khi mỗi cuộc đàm phán thương mại song phương và đa phương (FTA) được hoàn tất và ký kết đều được loan tin với những chi tiết như đối tác đàm phán có người đã phải lẻn ra một chỗ để khóc vì đã thất bại trong việc thương lượng với phía Việt Nam, để rồi phải chấp nhận phần thua thiệt cho nước họ, nhường phần thuận lợi hơn cho phía Việt Nam. Không vui mừng sao được khi tác động của những FTA này đều được lượng hóa rành rành bằng những con số như GDP của Việt Nam sẽ tăng được bao nhiêu phần trăm, bao nhiêu chục tỷ, trăm tỷ USD, và Việt Nam luôn là nước được hưởng lợi nhiều nhất khi ký kết và thực hiện những FTA này.
Lo âu cũng được nói đến, nhắc đến nhưng thường chỉ dừng lại ở một nhóm ngành, một bộ phận nhỏ dân chúng, tỷ như ngành chăn nuôi của Việt Nam trong TPP. Dễ thấy, trong cái sự chói lòa của lợi ích hàng chục phần trăm tăng trưởng GDP, hàng chục, hàng trăm tỷ USD gia tăng thêm vào thu nhập quốc dân thì sự sụp đổ, nếu có, của một bộ phận nhỏ trong nền kinh tế cũng chỉ là, chỉ được coi như một cái giá phải trả rất hời, rất dễ chịu để đánh đổi những lợi ích to lớn, toàn cục.
Nhưng rồi chợt nhớ đến bài học thời hậu WTO. Thời đó thậm chí mọi người còn vui hơn, lạc quan hơn nhiều, trước viễn cảnh cực kỳ tươi sáng rằng hàng đoàn các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chen chân vào Việt Nam để khai phá một thị trường mới nổi đầy tiềm năng chưa được khai phá. Để rồi không lâu sau đó nền kinh tế bắt đầu trục trặc, sa lầy vào vùng trũng tăng trưởng chậm kèm theo bất ổn kinh tế vĩ mô kéo dài để lại hậu quả cho nhiều năm sau.
Nhưng nói như trên không phải là đổ lỗi cho việc gia nhập WTO nói riêng hay mọi FTA nói chung khác. Có lẽ, những bất ổn, những mất mát cho nền kinh tế xảy ra là hậu quả của một thái độ chủ quan, duy ý chí, “hội” nhưng không chịu “nhập” cuộc chơi, hoặc “nhập” nhưng không đến nơi đến chốn.
Cuộc chơi của WTO, TPP hay bất cứ FTA nào đều dựa trên một tinh thần minh bạch, bình đẳng, tuân thủ nguyên tắc thị trường. Hay nói cách khác, chính các FTA này thúc đẩy sự cải cách một nền kinh tế đang loay hoay với cái định nghĩa “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” như của Việt Nam sang một nền kinh tế thị trường thuần túy hơn, chỉ có cạnh tranh mới có thể tồn tại, để được các đối tác lớn tôn trọng và tin cậy công nhận tư cách là một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, nhờ đó được hưởng những lợi ích đem đến từ việc các nước đối tác hạ thấp rào cản thuế quan, không áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại như chống bán phá giá lên hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Nhưng đáng tiếc là với những FTA trước đây, chúng ta dường như không tận dụng được những lợi thế mà chúng có khả năng đem lại, trong khi buộc phải mở cửa thị trường trong nước để hàng hóa và dịch vụ của các nước đối tác xâm nhập mà không hoặc khó có thể dùng các hình thức bảo hộ truyền thống như bấy lâu nay vẫn sử dụng. Mức độ minh bạch và tính thị trường của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ, bị xếp hạng yếu kém trong nhiều bảng xếp hạng trên thế giới trong nhiều năm qua. Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục được xác định là quả đấm thép, là khu vực được bảo bọc và ưu tiên tối đa, thu hút phần lớn nguồn lực của quốc gia để rồi kết quả hoạt động lại đi ngược lại với kỳ vọng, ngày càng yếu kém, nợ chồng chất nợ. Khu vực tư nhân tuy là động lực tăng trưởng của nền kinh tế và là chủ thể khai thác một cách hữu hiệu nhất các lợi thế mang đến từ các FTA nhưng trên thực tế là chủ thể dễ bị tổn thương nhất từ các FTA khi các nguồn lực quốc gia lại tiếp tục xa lánh nó, tập trung dồn sức cho khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Trong bối cảnh mà các doanh nghiệp nhà nước tuy lớn xác mà ngày càng lụn bại, như cái thùng không đáy nuốt chửng các nguồn lực quốc gia, còn các doanh nghiệp tư nhân thì bị bỏ mặc vất vưởng, tự sống, tự tìm cách thâm nhập thị trường nước ngoài hoặc tự chống đỡ với áp lực cạnh tranh từ hàng nhập khẩu, các doanh nghiệp nước ngoài (FDI) đã nhanh chóng lấp đầy khoảng trống tạo ra trong nền kinh tế Việt Nam với những ưu thế to lớn không thể so sánh về năng lực, vốn, quản trị và khả năng tiếp cận thị trường trong và ngoài nước.
Đến các FTA mới đây ký kết, đặc biệt là TPP, một hiệp định thương mại tự do được gọi là tầm cỡ thế kỷ, và là điển hình cho các FTA khác trên thế giới. Xu hướng “hội” mà không “nhập” tốt như trên có tiếp tục xảy ra nữa hay không? Hy vọng là lần này sẽ khác về chất. Bởi khu vực doanh nghiệp nhà nước đã ngày càng mất đi vị thế và tiếng nói trong công luận và ngay cả trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, tuy vẫn còn được hậu thuẫn đây đó bởi một số tiếng nói bảo thủ, vụ lợi. Song song đó, khu vực tư nhân đang ngày càng lớn mạnh, trưởng thành hơn và tỏ ra là những thế lực kinh tế đáng gờm với không chỉ khu vực doanh nghiệp nhà nước mà còn với cả các doanh nghiệp FDI.
Những cam kết chặt chẽ trong TPP cũng không cho phép Chính phủ tùy ý muốn làm gì, muốn bảo hộ khu vực doanh nghiệp nhà nước như thế nào thì làm. Hơn thế nữa, nó còn cho phép các cá nhân được kiện Nhà nước ra trước các tòa án trọng tài quốc tế nếu quyền lợi của họ bị xâm phạm bởi những hành vi phân biệt đối xử của Nhà nước. Tinh thần cạnh tranh công bằng, không thiên vị, phân biệt đối xử, kèm theo cơ chế khiếu nại giải quyết tranh chấp hữu hiệu được thể hiện xuyên suốt qua nhiều chương của TPP sẽ buộc các quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam phải tuân thủ cuộc chơi mang tính thị trường, mở rộng cửa đón nhận hàng hóa, dịch vụ và vốn đầu tư của các nước thành viên khác chảy vào, trong khi cũng sẽ được đảm bảo những lợi ích tương tự từ những nước thành viên.
Như vậy, sự hội nhập với thế giới hơn nữa thông qua các FTA nhất là TPP trong năm nay sẽ là một cú “ngoại kích” song hành với một cú “nội công” từ sự trưởng thành và lớn mạnh hơn của khu vực tư nhân và sự lao dốc của khu vực doanh nghiệp nhà nước sẽ buộc Chính phủ phải có những thay đổi căn bản trong tư duy quản lý và điều hành nền kinh tế, gây sức ép hơn nữa lên tiến trình cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế. Nói cách khác, đây cũng chính là quá trình cởi trói, tự do hóa hơn nữa nền kinh tế theo hướng thị trường, vốn có lợi cho sự năng động và linh hoạt của nền kinh tế quốc gia nắm bắt những cơ hội mới đồng thời là bệ giảm sốc cho những tác động tiêu cực không mong muốn đem lại từ các FTA này.
Trong quá trình tái cơ cấu và tự do hóa hướng tới một nền kinh tế thị trường thuần túy, sự “nhập” của Việt Nam càng trở nên nhanh hơn, thuận lợi và có ý nghĩa hơn nếu Chính phủ biết điều chuyển những nguồn lực vốn bấy lâu nay vẫn dồn cho khu vực doanh nghiệp nhà nước sang hậu thuẫn cho khu vực doanh nghiệp tư nhân, giúp chúng tăng cường được tính cạnh tranh đồng thời tìm đến và tiếp cận được những thị trường thích hợp cho hàng hóa và dịch vụ của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự hậu thuẫn này không nên được hiểu, không phải là các hình thức trợ cấp trực tiếp bằng ưu đãi, bằng những quyền lợi như với doanh nghiệp nhà nước mà ở dạng gián tiếp như đào tạo nhân lực, tiếp cận thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, thị trường vốn và tín dụng dễ dàng hơn v.v...

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).