Monday, 29 February 2016

Petrotimes đổi giọng về Lọc dầu Dung Quất!

Cách đây vài tuần tớ có tình cờ đọc được một bài đánh bóng Lọc dầu Dung Quất trên tờ Petrotimes. Thôi thì nó là tờ báo ngành nên nó có đánh bóng ai đó trong ngành thì cũng là chuyện bình thường. Nhưng điều mà tớ khó tiêu hóa nhất với bài báo đó, với tờ báo này là giọng điệu không chỉ rất chi là chợ búa, ngứa tai, mà còn nói lấy được. Đại loại có những cụm từ (rất buồn cười với phong cách báo chí nhất là trong kinh tế) như “hiểm độc hơn rắn độc”, v.v… dùng để chửi mắng “các chuyên gia”, là những cá nhân nào đó lên tiếng phê phán Dung Quất, phê phán tính vô hiệu quả, sự ỷ lại, làm già của Dung Quất. Nó chửi mắng “các chuyên gia” này vì cho rằng họ không hiểu biết sự việc mà cứ nói bừa…
Tớ đọc xong để đấy vì nghĩ không phải việc của mình, không phải mối quan tâm của mình, thậm chí còn có phần nghiêng về bài báo khi nó nhấn mạnh đến chuyện chỉ đòi công bằng từ chuyện thuế khóa chứ không đòi ưu đãi.
Nhưng hôm vừa rồi có việc sờ đến biểu thuế ATIGA mới chợt phát hiện ra là PetroVietnam với Dung Quất, với những kẻ ăn theo như Petrotimes nói láo. Đó là lý do để tớ viết bài “Thực hư việc Lọc dầu Dung Quất có thể phải đóng cửa nếu không được giảm thuế”, mặc dù ý thức rõ là bài này sẽ tương tự như cầm cây gậy bóng chày phang thẳng vào mặt PetroVietnam hay bọn ăn theo đó, do đó chắc chắn sẽ có phản ứng từ phía các đồng chí này.
Quả là thế, tớ vừa tìm thấy bài này trên Petrotimes tìm cách biện hộ, phang lại một số ý kiến của tớ trong bài.
Điều đáng chú ý là bài này đã đổi giọng, hoàn toàn lờ tịt chuyện chênh lệch thuế má “bất công”, chuyển sang lý luận cùn rằng phải tiếp tục ưu đãi thế để nó phát huy cái nọ, cái kia, vì nó xứng đáng v.v…


Do cái mớ lập luận trong bài báo vẫn theo truyền thống là nói lấy được nên tớ cũng chẳng buồn vặn vẹo như mọi khi nữa. Chỉ có một điểm cần vặn vẹo vì nó trực tiếp phang vào chuyện tớ nêu rằng nhập khẩu từ Hàn Quốc chỉ chiếm 8,6% tổng nhập khẩu xăng dầu nên không phải là mối đe dọa của Dung Quất. Bài báo này lập luận rằng các nhà nhập khẩu sẽ gia tang nhập khẩu từ Hàn Quốc (Nhật Bản) làm cho tỷ trọng nhập khẩu của chúng không chỉ là 10% mà còn hơn thế.
Đúng là có khả năng như vậy, và tớ khi viết cũng đã nghĩ đến khả năng này. Có điều, tớ đưa ra những số liệu thực tế thế (gồm cả nhập khẩu từ ASEAN) để chứng tỏ PetroVietnam và bọn ăn theo đang nói láo, lừa dối thiên hạ. Hai nữa, Hàn Quốc và Nhật Bản không phải là nước có thế mạnh (có tính cạnh tranh) về lọc dầu nên chắc chắn nhập khẩu xăng dầu của Vietnam từ 2 nước này không thể tăng đến mức chiếm đa số trong nhập khẩu của Vietnam được. Mà đã không chiếm đa số được thì như tớ nói trong bài, sẽ là bất hợp lý khi hạ thuế điều tiết của Dung Quất bằng với thuế nhập khẩu từ Hàn Quốc (và Nhật).
Trong bài tớ không đả động gì đến Nhật vì PetroVietnam không đả động (mấy) đến Nhật. Nhưng nay, bài báo trên của Petrotimes lại lôi thêm Nhật ra để dọa. Tớ lại phải mò vào homepage của Tổng cục Hải quan để tra biểu thuế ưu đãi VJEPA thì thấy hình như Vietnam không có ưu đãi gì thêm cho Nhật trong các hạng mục xăng dầu nhẹ, 271012 (vì không thấy nêu thuế suất, có nghĩa là áp dụng MFN). Chỉ có các loại dầu mỡ bôi trơn, từ 27101920 cho đến 27101960 là xuống còn 0-2%. Tóm lại là nhập khẩu xăng dầu từ Nhật cũng không được hưởng ưu đãi ở những mặt hàng “nóng” như xăng động cơ và diesel. Tóm lại thêm nữa là tớ nghĩ rằng mấy đồng chí ăn theo nói leo này thậm chí chỉ nghe hơi nồi chõ mà chưa bao giờ nhìn thấy mặt mũi cái biểu thuế ưu đãi thường và ưu đãi đặc biệt nó ra thế nào.
Nhưng tớ cứ đợi xem có ai phang tớ thật lực, xứng đáng, trong thời gian sắp tới không.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).