Friday, 11 March 2016

Đã có cách giải bài toán thuế cho Dung Quất (Bài đăng trên TBKTSG, 11/3/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/143312/Da-co-cach-giai-bai-toan-thue-cho-Dung-Quat.html

Lập luận mà tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) thường đưa ra để xin giảm mức thuế điều tiết đối với Nhà máy Lọc dầu Dung Quất có thể tóm tắt như bên dưới. Vấn đề là lập luận này đã lập lờ một chỗ.

Từ đầu năm 2016 thuế nhập khẩu xăng từ các nước trong khu vực ASEAN giảm từ 20% về 10% và thuế nhập khẩu diesel giảm về 0% theo lộ trình đã định sẵn. Ngoài ra, thuế nhập khẩu với sản phẩm xăng từ Hàn Quốc cũng được đưa về mức 10% theo biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc.

Trong khi đó, sản phẩm xăng dầu sản xuất tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất bán ra thị trường nội địa phải nộp điều tiết dựa trên thuế suất thuế nhập khẩu chung và mức thuế họ đang chịu là 20%, dẫn đến sản phẩm của Dung Quất khó cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu.

Chỗ lập lờ trong lập luận nói trên là cho rằng thuế nhập khẩu xăng dầu từ các nước trong khu vực ASEAN giảm từ 20% về 10%. Thực tế là, đối với mặt hàng xăng thì chỉ có xăng máy bay là được giảm thuế từ 20% về 10% chứ không phải tất cả các mặt hàng xăng nhập khẩu từ ASEAN đều được hưởng thuế nhập khẩu 10%.

Trong khi đó, Dung Quất cũng đã và đang chịu thuế điều tiết là 20% cho xăng động cơ và 10% cho xăng máy bay, bằng với mức thuế ưu đãi ASEAN (chứ không phải đồng nhất 20% như PVN nói). Riêng về thuế nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc, đúng là hiện mức đồng nhất 10% đang được áp dụng cho các sản phẩm xăng, không phân biệt xăng máy bay hay xăng động cơ, và điều này đang là bất lợi cho Dung Quất khi họ vẫn phải chịu mức thuế điều tiết 20% cho xăng động cơ.

Bởi thế, trong các kiến nghị xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây hơn, PVN đã thay đổi nội dung đòi hỏi, đã bỏ phần so sánh mức thuế điều tiết về mặt hàng xăng cho Dung Quất với mức thuế nhập khẩu từ ASEAN như nói ở trên, chủ yếu chỉ còn nhấn mạnh vào so sánh chênh lệch giữa thuế điều tiết áp dụng cho các sản phẩm xăng dầu của Dung Quất với thuế nhập khẩu ưu đãi từ Hàn Quốc (và đôi khi còn so sánh với cả nhập khẩu từ Nhật Bản).

So sánh chênh lệch thuế như thế đã tỏ ra hợp lý hơn. Xét về, ví dụ, xăng động cơ, trong khi Dung Quất bị áp thuế điều tiết 20% thì sản phẩm này nhập khẩu từ Hàn Quốc lại được hưởng thuế 10%.

Về dầu diesel, trong khi Dung Quất chịu thuế 10% thì dầu diesel nhập khẩu từ ASEAN hoặc Hàn Quốc chỉ chịu thuế 0%. Nói cách khác, rõ ràng là Dung Quất sẽ gặp khó trong việc tiêu thụ những sản phẩm có mức thuế chênh lệch lớn như thế này so với sản phẩm tương tự nhập khẩu.

Nhưng cần nhấn mạnh rằng chênh lệch thuế không đủ để trở thành lý do Chính phủ phải hạ thuế điều tiết cho Dung Quất xuống bằng thuế ưu đãi đặc biệt cho Hàn Quốc (hay Nhật Bản). Nguyên nhân là bởi nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc, theo người viết tính toán dựa trên số liệu của UN Tradecom, chỉ chiếm 8,6% tổng lượng xăng các loại nhập khẩu về Việt Nam năm 2014 (chưa có số liệu năm 2015).

Với tỷ trọng nhỏ này, sẽ là không hợp lý nếu hạ thuế điều tiết cho các loại xăng của Dung Quất đồng loạt xuống 10%, ngang bằng với thuế ưu đãi cho nhập khẩu từ Hàn Quốc, trong khi đa phần nhập khẩu vẫn chịu thuế từ 10-20% tùy loại (xăng động cơ hay xăng máy bay), kể cả từ ASEAN, nơi cung cấp đến 70,7% lượng xăng nhập khẩu về Việt Nam năm 2014.
Tuy nhiên, cũng đã có một số người lập luận rằng tuy nhập khẩu xăng từ Hàn Quốc trong các năm trước không lớn nhưng rất có thể sẽ tăng mạnh từ năm nay, khi mức thuế 10% được áp dụng, thay vì 20% (với xăng động cơ) như trước. Do đó, trong mắt họ, vẫn là hợp lý khi hạ thuế điều tiết cho Dung Quất về 10%.

Đúng là có thể rằng nhập khẩu xăng từ Hàn Quốc sẽ tăng mạnh, nhưng về nguyên tắc không thể chiếm 100% tổng lượng xăng nhập khẩu vào Việt Nam. Điều này chí ít vì ngoài chuyện thuế nhập khẩu cao hay thấp, lượng nhập khẩu có tăng lên hay không còn phụ thuộc phần lớn vào giá gốc nhập khẩu. Chỉ khi nào xăng sản xuất từ Hàn Quốc có giá thấp nhất thế giới, với sản lượng lớn nhất thế giới (cần bao nhiêu cũng có) thì lúc đó mới xảy ra tình trạng nhập khẩu từ Hàn Quốc thay thế toàn bộ nhập khẩu từ các nước khác. Mà điều này thì không đúng vì năm 2014, Hàn Quốc xuất khẩu 12,2 triệu tấn xăng (sang Việt Nam chỉ là 212.400 tấn), tuy là lớn nhưng cũng chỉ là một phần nhỏ trong tổng cung thế giới.
Vì thế, việc hạ thuế điều tiết cho Dung Quất về 10% vẫn là không thỏa đáng khi vẫn sẽ còn một phần được nhập khẩu từ các nước và khu vực khác đang chịu thuế cao hơn.

Dẫu vậy, trên nguyên tắc, rõ ràng là nhập khẩu từ Hàn Quốc với thuế thấp hơn thì dù ít hay nhiều cũng đã và đang gây thiệt hại cho Dung Quất, và vì thế cũng cần phải xem xét điều chỉnh thuế cho Dung Quất ở mức hợp lý, dù không thể xuống mức 10% như nói ở trên. Theo hướng này, cách làm công bằng nhất là hoàn thuế cho Dung Quất dựa theo tỷ trọng nhập khẩu xăng dầu thực tế vào Việt Nam từ Hàn Quốc và những nước được hưởng ưu đãi thuế đặc biệt khác (ví dụ Nhật Bản) thấp hơn mức thuế điều tiết lên Dung Quất.

Cụ thể, ví dụ, trong năm 2016, tỷ trọng nhập khẩu xăng động cơ theo biểu thuế ưu đãi từ Hàn Quốc (với mức thuế 10%) tăng vọt lên, chiếm 40% tổng lượng xăng động cơ nhập khẩu vào Việt Nam. Giả sử 60% nhập khẩu còn lại là từ ASEAN với mức thuế 20%, bằng với mức thuế điều tiết áp dụng cho Dung Quất. Vậy mức thuế điều tiết cho Dung Quất sẽ được tính theo công thức sau: (40x10 + 60x20)/100 = 16(%). Nói cách khác, sang năm 2017 Dung Quất sẽ được hoàn 4 điểm phần trăm thuế tính trên sản lượng xăng động cơ mà nó tiêu thụ trong năm 2016. Điều này sẽ giúp Dung Quất giảm được giá bán năm 2017 và các năm sau. Hoặc cũng có thể áp dụng mức thuế 16% này cho Dung Quất từ năm 2017 thay vì 20%, và mức này sẽ lại được điều chỉnh trong những năm tiếp theo dựa vào số liệu thực tế của năm trước đó. Nếu thấy chu kỳ hoàn thuế một năm là quá dài, vẫn gây thiệt hại cho Dung Quất thì có thể rút ngắn thành quí hoặc nửa năm một lần.

Áp dụng cách tính toán tương tự như vậy cho các mặt hàng xăng dầu khác và cho các nước, khu vực nhập khẩu khác sẽ ra được mức hoàn thuế hay mức thuế điều tiết phù hợp và công bằng cho Dung Quất. Và tuy tính toán như vậy có thể sẽ phức tạp vì phải cập nhật thường xuyên số liệu một cách chính xác nhưng nó tỏ ra là cách tính công bằng nếu Chính phủ vẫn chủ trương giữ thuế điều tiết cho Dung Quất tương ứng với mức thuế nhập khẩu nói chung (không phụ thuộc duy nhất vào nước hay vùng nhập khẩu nào).

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).