Friday, 4 March 2016

Cho ai vay là việc của ngân hàng thương mại (Bài đăng trên TBKTSG, 4/3/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/143005/Cho-ai-vay-la-viec-cua-ngan-hang-thuong-mai.html

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang dự thảo sửa đổi thông tư 36/2014/TT-NHNN trong đó dự kiến giảm mạnh trần sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung hạn, dài hạn từ 60% hiện nay xuống còn 40% và nâng hệ số rủi ro của các khoản cho vay kinh doanh bất động sản từ 150% lên 250%.
Do phần lớn các khoản cho vay lĩnh vực bất động sản đều là các khoản vay trung và dài hạn nên động thái này cũng cho thấy NHNN muốn hạn chế sự tăng trưởng nóng của tín dụng chảy vào kênh bất động sản. Kinh nghiệm nhiều năm trước đây dường như cho thấy tín dụng ngân hàng chảy quá nhiều vào bất động sản là nguyên nhân trực tiếp gây ra những đợt nóng sốt và xì hơi của bất động sản ở Việt Nam, gây ra những hệ lụy lớn cho ổn định kinh tế vĩ mô và sức khỏe của hệ thống tài chính và ngân hàng Việt Nam. Như vậy, có thể hiểu dự thảo sửa đổi Thông tư 36 là một ý tốt của NHNN nhìn từ trách nhiệm ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn tài chính quốc gia. Nhưng cũng không thể bỏ qua một mục tiêu khác mà NHNN rất có thể ngắm đến trong việc sửa đổi chính sách lần này là họ muốn vốn tín dụng ngân hàng chảy đến những nơi cần chảy – những lĩnh vực được ưu tiên, ví dụ, nông nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ… Có lẽ NHNN quan ngại rằng nếu không sửa đổi theo hướng thắt chặt hơn thì các tín dụng ngân hàng sẽ “bỏ quên” các lĩnh vực ưu tiên này mà chỉ tập trung vào bất động sản mang lại lợi nhuận lớn hơn.
Tuy nhiên, nhìn từ phía ngành bất động sản, đa phần cho rằng nếu sửa đổi Thông tư 36/2014/TT-NHNN theo hướng như đã nói trên, thì có thể sẽ có tác động tiêu cực đến thị trường BĐS mới vừa phục hồi hơn 2 năm qua từ đáy sâu khủng hoảng. Đối tượng bị thiệt hại không chỉ là các nhà đầu tư kinh doanh thứ cấp, các doanh nghiệp phát triển dự án BĐS, và người tiêu dùng là những người thu nhập thấp đô thị, mà còn cả các ngành, nghề có liên quan đến thị trường BĐS...
Vậy có giải pháp nào tốt hơn để dung hòa lợi ích của các bên liên quan, NHNN với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước, các ngân hàng thương mại với tư cách là người cho vay, và các doanh nghiệp bất động sản, nhà đầu tư bất động sản và người mua bất động sản với tư cách là người đi vay? Câu trả lời là hãy để thị trường lên tiếng, quyết định nhiều hơn.
NHNN thay vì trực tiếp can thiệp vào thị trường tín dụng thông qua định hướng hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại vào những lĩnh vực mà NHNN xác định là cần nhận được nhiều vốn hơn thì chỉ nên đặt ra những tiêu chuẩn chung, những mục tiêu áp dụng chung cho cả nền kinh tế, chứ không cho từng ngành, từng lĩnh vực như hiện tại.
Xét về nội dung dự thảo sửa đổi Thông tư 36, việc hạ trần sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tỏ ra là điều cần thiết để giảm rủi ro trong toàn hệ thống, và nội dung sửa đổi này không chỉ tác động riêng đến ngành và các chủ thể trong bất động sản mà còn nhiều ngành, chủ thể khác trong nền kinh tế. Do đó, xét theo nguyên tắc đặt ra những tiêu chuẩn chung nêu trên thì điều sửa đổi này là hợp lý, tuy vẫn cần phải có những phân tích thấu đáo, ví dụ, tại sao lại là 40% mà không phải là 50%?
Về nội dung sửa đổi thứ hai trong dự thảo sửa đổi Thông tư 36, nâng hệ số rủi ro của các khoản cho vay kinh doanh bất động sản từ 150% lên 250%, điều này không chỉ là bất hợp lý nếu xét từ nguyên tắc trên khi nó trực tiếp nhắm vào duy nhất ngành bất động sản. Nếu biện hộ là để giảm rủi ro cho hệ thống ngân hàng khi tập trung quá nhiều vốn vào ngành bất động sản, vì ngành này (đang) có nhiều rủi ro, thì điều này là thiếu căn cứ. Vì trong nền kinh tế thị trường, rõ ràng chẳng có ngành nào là ít hay nhiều rủi ro hơn phần còn lại của nền kinh tế. Ngành nào cũng có lúc thịnh, lúc suy, lúc ổn định, lành mạnh… đứng trên giác độ đầu tư. Và trên giác độ này thì lĩnh vực bất động sản rõ ràng chưa phải là lúc cần lo lắng vì mọi người đều thấy nó đang ở thời thịnh, mới bắt đầu thịnh trở lại, và chỉ có các ngân hàng thương mại mới hiểu rõ họ cần cho ai vay, bao nhiêu và bao lâu.
Nhưng nếu giả sử NHNN vẫn cứ lo ngại mọi việc sẽ thoát khỏi tầm kiểm soát của họ khi, trong mắt họ, thị trường bất động sản đã bắt đầu giai đoạn bong bóng, và, do đó, cần phải cho xì hơi bớt từ bây giờ?
Kể cả điều này là có thật thì NHNN cũng không cần phải bận tâm một cách “vi mô” như vậy. Với tư cách và vị thế của cơ quan điều tiết vĩ mô, NHNN chỉ cần siết chặt hơn tăng trưởng tín dụng cho toàn nền kinh tế, tự khắc tín dụng ngân hàng cho ngành bất động sản cũng phải giảm bớt như ý đồ.
Cũng có thể sẽ có lo lắng rằng khi tín dụng chung bị thắt chặt hơn thì vẫn còn rủi ro là các ngân hàng thương mại vẫn cứ nhắm mắt, say sưa đổ tín dụng vào bất động sản mà sao lãng tín dụng vào các ngành khác, dẫn đến tín dụng cho những ngành này càng ít hơn nữa.
Lo lắng này cũng là điều có thể xảy ra. Nhưng để ngăn chặn tình trạng này thì cũng không có gì là khó với quyền lực của NHNN. Với logic có thể có của NHNN rằng nếu vốn tín dụng đổ vào bất động sản nhiều thì sẽ làm chất lượng tài sản của nhiều ngân hàng sẽ xấu đi, vậy NHNN chỉ cần thắt chặt các tiêu chuẩn chung về chất lượng hoạt động của ngân hàng như tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu, trần sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn (như đang dự thảo) v.v… thì tự khắc các ngân hàng thương mại phải cẩn trọng hơn trong quyết định đổ bao nhiêu vốn vào bất động sản là đủ mà không vi phạm các tiêu chuẩn hoạt động an toàn mà NHNN đặt ra để rồi bị phạt nặng.
Quan trọng không kém, như nhiều báo cáo thanh tra, giám sát, đánh giá của trong nước lẫn quốc tế, ví dụ như của Ngân hàng Thế giới (WB) mới đây đã chỉ ra, tín dụng ngân hàng hiện nay đang phân bổ một cách bất hợp lý cho khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoặc các doanh nghiệp tư nhân có quan hệ thân hữu, lấn át tín dụng dành cho những khu vực khác, trong đó có các khu vực được ưu tiên. Hơn nữa, tình trang sở hữu chéo vẫn còn nghiêm trọng và một vài cá nhân hay nhóm lợi ích vẫn có thể điều khiển hoạt động cho vay của ngân hàng theo hướng có lợi cho họ như cho doanh nghiệp sân sau, cho những mục đích cá nhân, vụ lợi v.v… càng làm giảm nguồn tín dụng lẽ ra được dành cho các doanh nghiệp và ngành có tiềm năng và lành mạnh.
Bởi thế, nếu NHNN mạnh tay dẹp bỏ được những tồn tại, những hoạt động mờ ám này thì tự khắc sẽ mở lối hơn nữa cho tín dụng chảy vào các khu vực có tiềm năng, cần được khuyến khích, cho dù tín dụng chung cho cả nền kinh tế có bị NHNN thắt chặt hơn. Ngược lại, nếu không xử lý tốt được những tồn tại này thì NHNN sẽ phải vật lộn với mục tiêu vừa giữ cho tín dụng tăng trưởng không quá nóng, vừa phải đảm bảo tín dụng vẫn chảy đầy đủ vào các lĩnh vực cần thúc đẩy.
Cuối cùng, cũng không nên quên rằng NHNN không phải là cơ quan quản lý nhà nước (duy nhất) có nhiệm vụ khuyến khích ngành nào phát triển, ngành nào cần “hãm phanh”. Việc này phải là trách nhiệm của, sẽ được làm tốt hơn bởi các cơ quan khác của Chính phủ, ví dụ như Bộ Tài chính thông qua chính sách thuế điều tiết mức độ của các hoạt động kinh tế, hay thông qua Bộ Xây dựng với các quy định chặt chẽ về môi trường, quy hoạch xây dựng (để giảm bớt nguy cơ tăng trưởng bong bóng bất động sản), hoặc các loại quỹ của Chính phủ như Quỹ doanh nghiệp vừa và nhỏ, hay kể cả Ngân hàng chính sách, Ngân hàng Phát triển Việt Nam… là những ngân hàng có vốn của ngân sách (không phải của NHNN).
Từ nhữn phân tích trên, có thể thấy NHNN nên quay trở về đúng với vai trò và trách nhiệm cốt lõi của họ là điều hành chính sách tiền tệ và tỷ giá đúng nghĩa ở tầm vĩ mô để đảm bảo lạm phát thấp, tạo điều kiện ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).