Friday, 18 March 2016

Không thể đẩy phần thiệt sang cho người vay (Bài đăng trên TBKTSG, 18/3/2016, bản gốc, tiêu đề do báo đặt)

http://www.thesaigontimes.vn/143615/Khong-the-day-phan-thiet-sang-cho-nguoi-vay.html

Nghị quyết 02/2013 ngày 7/1/2013 của Chính phủ ban hành một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu. Một trong những giải pháp này là yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) dành từ 20.000-40.000 tỷ đồng thông qua tái cấp vốn với lãi suất hợp lý và thời hạn tối đa 10 năm để hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại Nhà nước cho vay đối với các đối tượng để thuê, thuê mua nhà ở xã hội, cũng như nhà ở thương mại (là nhà có diện tích nhỏ hơn 70 m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2). Đối tượng được vay là những người thu nhập thấp, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang.
Tuy nhiên, phải đến ngày 15/5/2013, Bộ Xây dựng và NHNN mới ban hành Thông tư 07/2013 và Thông tư 11/2013 để hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 02, trong đó gói 30.000 tỷ lần đầu tiên đề cập đến. Vốn cho gói này là từ các khoản cho vay tái cấp vốn của NHNN.
Khó khăn thực thi
Từ lúc ra đời, gói 30.000 tỷ gặp khá nhiều trở ngại. Đầu tiên, lãi suất cho vay ưu đãi được xác định là 6%/năm, nhưng sang đến năm 2014 được hạ xuống 5% để cho phù hợp hơn với tính chất “hỗ trợ” của gói này. Đồng thời, để thúc đẩy thêm tốc độ triển khai vốn đang diễn ra khá chậm chạp, NHNN cho phép thêm 8 ngân hàng thương mại cổ phần được tham gia vào gói này bên cạnh 5 ngân hàng ban đầu.
Vẫn thấy chưa đủ, tháng 8/2014, NHNN ban hành Nghị quyết 61/2014, sửa đổi một số điều của Nghị quyết 02/2013 để mở rộng thêm loại hình bất động sản và đối tượng được vay gói 30.000 tỷ. Đó là những bất động sản có giá không vượt quá 1,05 tỷ đồng, và các hộ gia đình có cải tạo, xây dựng mới nhà ở xã hội.
Tuy vậy, vì lý do này hay lý do khác, đến cuối năm 2015 mới chỉ có hơn 17.700 tỷ trong gói 30.000 tỷ được giải ngân tuy mức cam kết cho vay đã đạt 90%.
Bất an người vay
Đến thời điểm hiện tại, nhiều người “chưng hửng” xen lo lắng khi được biết việc giải ngân vốn vay ưu đãi từ gói 30.000 tỷ sẽ chấm dứt vào ngày 1/6 này. Nhiều người đi vay mới chỉ giải ngân được một phần nguồn vốn vay gói 30.000 đang phải đối mặt với mất khả năng thanh toán khi lãi suất cho phần dư nợ giải ngân từ sau 1/6/2016 sẽ là lãi suất cho vay thương mại cao hơn nhiều lãi suất cho vay ưu đãi 5% hiện nay.
Nguồn cơn
Trước sự hoang mang của dư luận, NHNN chiều tối 11/3 đã lên tiếng và viện dẫn Thông tư 11/2013 để khẳng định chuyện giải ngân của NHNN sẽ dừng lại khi đã giải ngân hết số tiền tái cấp vốn nhưng tối đa là 36 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực là điều đã được công bố từ ngay từ đầu.[1]   

Tuy nhiên, cần lưu ý là thời hạn 36 tháng trên (đến 1/6/2016) là thời hạn tối đa NHNN giải ngân các khoản cho vay tái cấp vốn 30.000 tỷ đối với các ngân hàng thương mại. Nó không phải là thời hạn cho các ngân hàng thương mại dừng giải ngân với lãi suất ưu đãi cho các khoản vay trong gói 30.000. Hoàn toàn không có điều khoản nào trong Thông tư 11/2013 quy định rằng các ngân hàng thương mại tham gia gói 30.000 tỷ này phải áp dụng lãi suất thương mại cho phần dư nợ giải ngân từ sau 1/6/2016. Chỉ có Khoản 3 Điều 8 của thông tư này mới có quy định liên quan đến lãi suất thương mại, theo đó: “… Dư nợ còn lại của khách hàng tại ngân hàng sau ngày 1/6/2023 được chuyển sang hình thức cho vay bằng nguồn vốn của ngân hàng”. Ngoài ra, Điều 4 thông tư này đã quy định rõ lãi suất cho vay hỗ trợ không vượt quá 6%/năm và thời gian áp dụng lên tới tối đa 10 năm, nhưng không vượt quá thời điểm 1/6/2023.


Vậy, cứ chiểu theo những quy định trên, nếu trong các hợp đồng vay vốn hiện tại ký giữa ngân hàng thương mại và người vay mua nhà trong gói 30.000 tỷ này có điều khoản nào quy định rằng phần dư nợ giải ngân sau 1/6/2016 sẽ chịu lãi suất thương mại thì điều khoản này là không được dựa trên Thông tư 11/2013. Với người vay đã trót thỏa thuận chịu lãi suất thương mại này thì có phần lỗi của mình khi không đòi hỏi ngân hàng thương mại ký cho vay phải áp dụng thời hạn lãi suất ưu đãi dài hơn (tối đa đến 1/6/2023). Với ngân hàng thương mại, sẽ là có lỗi khi có ai đó đưa ra được bằng chứng rằng ngân hàng thương mại đã cố tình hiểu sai luật, khi thuyết phục người vay chấp nhận rằng lãi suất ưu đãi dưới hoặc bằng 6%/năm chỉ được áp dụng cho các khoản dư nợ giải ngân trước 1/6/2016 (với lý do, ví dụ, NHNN quy định như thế). Nếu có bằng chứng này, người vay tiền có thể khởi kiện ngân hàng thương mại vì đã cố tình đưa ra thông tin sai lệch gây thiệt hại cho họ.

Với các hợp đồng cho vay vốn ưu đãi từ gói 30.000 tỷ mà không có điều khoản nào quy định rằng phần dư nợ giải ngân sau 1/6/2016 sẽ phải chịu lãi suất thương mại thì dù NHNN sẽ dừng giải ngân các khoản cho vay tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại, các ngân hàng thương mại vẫn phải tiếp tục thực hiện giải ngân cho người vay với lãi suất ưu đãi (do NHNN công bố vào tháng 12 của năm trước) cho đến hết thời hạn của khoản vay (nhưng không được quá ngày 1/6/2023, trừ khi 2 bên có thỏa thuận cụ thể nào khác, ví dụ thời hạn khoản vay ưu đãi chỉ là 5 năm tính từ ngày ký hợp động vay vốn ưu đãi, do người vay chỉ muốn vay trong 5 năm mà thôi).

Cũng có các hợp đồng cho vay vốn ưu đãi của một số ngân hàng có quy định rõ lãi suất trước ngày 2/6/2023 là lãi suất thả nổi theo thông báo của NHNN về lãi suất cho vay hỗ trợ nhà ở theo Thông tư 11/2013, và sau ngày 2/6/2023 trở đi thì mới áp dụng lãi suất theo thông báo của ngân hàng đó (một hợp đồng dạng này đã được đăng trên Vietnamnet ngày 11/3/2016). Nay, nếu những ngân hàng này mà biện báo rằng vì NHNN dừng giải ngân cho vay tái cấp vốn cho ngân hàng đó nên họ phải dừng giải ngân lãi suất ưu đãi cho khách hàng mặc dù đã thỏa thuận áp dụng lãi suất ưu đãi đến tận 2/6/2023 như trong hợp đồng cho vay thì đây là một hành vi cần được coi là đơn phương phá vỡ hợp đồng. Như đã nói ở trên, Thông tư 11/2013 chỉ nói là NHNN dừng giải ngân tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại, chứ không nói là ngân hàng thương mại phải dừng giải ngân với lãi suất ưu đãi cho khách hàng kể từ ngày 2/6/2016. Kể cả trường hợp Thông tư 11/2013 có điều khoản nào đó nói rằng khi NHNN dừng giải ngân tái cấp vốn ưu đãi cho ngân hàng thương mại nên ngân hàng thương mại cũng dừng giải ngân vốn vay ưu đãi cho khách hàng, thì ngân hàng thương mại vẫn có lỗi, do khi soạn thảo và ký kết hợp đồng với khách hàng vẫn đưa vào điều khoản lãi suất ưu đãi kéo dài đến ngày 1/6/2023. “Bút sa gà chết”, ngân hàng thương mại phải thực hiện đúng như cam kết trong hợp đồng, chứ không thể lảng tránh nghĩa vụ, đẩy phần thiệt sang cho người vay được.

Về phía NHNN, họ cũng có những sơ hở, lỏng lẻo trong Thông tư 11/2013. Về số tiền cho vay theo lãi suất ưu đãi là khoảng 30.000 tỷ (chữ in đậm là nguyên văn trong Khoản 1 Điều 3), NHNN không phân bổ quota cho từng ngân hàng tham gia, mà chỉ tái cấp vốn sau khi các ngân hàng đã cho vay ra. Như vậy, sẽ xảy ra trường hợp tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng có thể vượt quá con số khoảng 30.000 tỷ, và do đó sẽ có ngân hàng nào đó bị từ chối được vay tái cấp vốn từ NHNN cho một (vài) khoản vay với mục đích này, gây thiệt hại cho họ khi đã trót cam kết cho khách hàng được hưởng lãi suất ưu đãi trong hợp đồng cho vay.

Quan trọng nhất, Thông tư 11/2013 không hề đề cập đến việc NHNN (giải ngân) cho vay tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại dựa trên những hợp đồng cho vay gồm nhiều đợt giải ngân theo tiến độ thanh toán của hợp đồng mua bán nhà, có thể kéo dài sau ngày 1/6/2016. Có lẽ chính vì sự thiếu vắng pháp lý với loại hợp đồng phổ biến này mà các ngân hàng thương mại tự diễn giải thành NHNN sẽ giải ngân cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại dựa trên tổng số vốn ngân hàng cam kết cho vay ghi trong hợp đồng cho vay (ví dụ, hợp đồng ký năm 2014 cho vay 500 triệu, giải ngân thành 3 đợt, đợt cuối là năm 2017) nên các ngân hàng này mới cam kết cho khách hàng vay với lãi suất ưu đãi đến tận 1/6/2023 vì nghĩ rằng NHNN sẽ giải ngân cho vay tái cấp vốn ngân hàng này ngay từ năm 2014 là 500 triệu. Dù đúng hay sai, nhưng thực tế là NHNN dường như đã và đang không đả động gì đến họ xử lý thế nào với các hợp đồng vay vốn ưu đãi có các đợt giải ngân kéo dài sang đến sau ngày 1/6/2016, thay vào đó lại đá quả bóng sang cho ngân hàng với khách hang.


[1] http://baophapluat.vn/chinh-sach/goi-30000-ty-dong-hoa-ra-nguoi-dan-bi-lua-265292.html

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).