Friday, 17 June 2016

Ba thông điệp quan trọng trong Nghị quyết 49 của Chính phủ (Bài đăng trên TBKTSG, 17/6/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/147749/Ba-thong-diep-quan-trong-trong-Nghi-quyet-49.html

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 49/NQ-CP trong phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5 năm 2016. Cảm nhận đầu tiên khi đọc nghị quyết này là tính cụ thể đã được cải thiện hơn so với những văn bản cùng loại trước đây. Trong nghị quyết này Chính phủ đã vạch ra những công việc cụ thể cần làm, những nơi phải thực hiện, với nhiệm vụ được phân công rõ ràng trong khoảng thời gian cụ thể.
Ngoài ra, Nghị quyết 49 còn chứa đựng vài thông điệp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và ổn định các cân đối vĩ mô.
Một mặt, tuy Chính phủ nhận định tình hình kinh tế - xã hội trong 5 tháng đầu năm còn nhiều khó khăn, thách thức, với kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc, lạm phát có nguy cơ tăng, xuất khẩu tăng trưởng thấp…, nhưng mặt khác Chính phủ quyết tâm không điều chỉnh các mục tiêu, phấn đấu đạt mục tiêu đề ra. Từ thông điệp này, có thể hiểu rằng Chính phủ quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức 6,7% đã được đặt ra cho năm 2016.
Mục tiêu này liệu có khả thi không? Cũng như Chính phủ đã nhìn nhận, bối cảnh trong và ngoài nước 5 tháng qua không hề thuận lợi cho tăng trưởng, và đây có lẽ cũng là lý do để Ngân hàng Thế giới (WB) mới đây đã phải hạ dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2016 xuống còn 6,2%, thấp hơn tới 0,4 điểm phần trăm so với dự báo của họ đưa ra hồi tháng 1 năm nay.
Nhưng có lẽ Chính phủ có niềm tin và lý lẽ riêng để đưa ra quyết tâm thực hiện được mục tiêu tăng trưởng tham vọng như vậy. Xét trong bối cảnh hiện tại, Chính phủ chắc chắn nhận thức rõ rằng nguồn lực cho tăng trưởng không thể đến từ việc mở rộng chính sách tiền tệ một cách bất cẩn như trước đây để đẩy mạnh đầu tư và tiêu dùng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Điều này được thể hiện ở việc Chính phủ thẳng thắn thừa nhận rằng lạm phát có nguy cơ tăng. Như vậy, một trong những nguồn lực cho tăng trưởng có tiềm năng nhất sẽ phải là cải thiện năng suất lao động xã hội.
Vậy năng suất lao động xã hội sẽ được cải thiện bằng cách nào? Điều này đã được gián tiếp trả lời bởi chính những quyết nghị liên quan đến xây dựng và hoàn thiện thể chế trong Nghị quyết 49. Nói nôm na thì một trong những trọng tâm điều hành của Chính phủ là “cởi trói” cho nền kinh tế, hạ thấp và xóa bỏ các rào cản trong kinh doanh và đầu tư, khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, nâng cao tính cạnh tranh của quốc gia. Những vấn đề này đã được đề cập khá chi tiết và cụ thể trong Quyết nghị 1 và 2 của Nghị quyết 49.
Tất nhiên, từ chính sách đến hành động là một quãng đường dài nhưng nếu Chính phủ mới của Thủ tướng Nguyễn Văn Phúc quyết tâm thực hiện như những gì đã thể hiện trong mấy tháng qua thì mục tiêu tăng trưởng 6,7% năm nay không phải là viển vông, bất khả thi, và nếu đạt được thì cũng không nhất thiết gây thêm bất ổn vĩ mô.
Thông điệp quan trọng thứ hai được thể hiện qua việc Chính phủ chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng bám sát mục tiêu kiểm soát lạm phát, trên cơ sở đó giảm lãi suất. Như vậy, với Chính phủ, tuy quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng GDP nhưng có thể hiểu rằng Chính phủ sẽ không mạo hiểm và sẵn lòng đánh đổi lạm phát lấy tăng trưởng như trước đây, mà thay vào đó là tập trung vào những giải pháp tăng trưởng phi tiền tệ như cải cách thể chế nói ở trên. Cũng từ chỉ đạo này có thấy thêm rằng lãi suất đã được Chính phủ xác định không phải là yếu tố sống còn cho tăng trưởng, và NHNN sẽ rất thận trọng trong việc hạ lãi suất. Hay nói cách khác, lãi suất sẽ không có dư địa đáng kể để giảm thêm trong năm nay nếu lạm phát trong quý 3 tiếp tục tăng mạnh có nguy cơ phá vỡ mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm nay dưới 5%.
Thông điệp quan trọng thứ ba cũng đến từ chỉ đạo của Chính phủ với NHNN. Theo đó, NHNN nghiên cứu và thực hiện các giải pháp phù hợp để quản lý thị trường ngoại tệ, thị trường vàng, bảo đảm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, phù hợp với chủ trương chống đô la hóa, vàng hóa của Chính phủ.


Thông điệp trên cho thấy Chính phủ vẫn nhất quan với chủ trương chống đô la hóa, vàng hóa của mình. Bối cảnh của chỉ đạo trên có thể là việc có một số kiến nghị gần đây về huy động vàng trong dân để phát triển kinh tế, hay kiến nghị nâng trần lãi suất tiền gửi USD lên trên 0%… mà về bản chất đều làm tăng nạn đô la hóa, vàng hóa vì đã công nhận đô la và vàng như một phương tiện thanh toán lưu thông hợp pháp trong lãnh thổ Việt Nam bên cạnh tiền đồng.
Phản hồi của NHNN trước kiến nghị về huy động vàng trong dân gần đây là một sự thận trọng cần thiết. Với kiến nghị NHNN nâng trần lãi suất tiền gửi USD lên trên 0%, nếu cứ chiểu theo đúng chỉ đạo chống đô la hóa của Chính phủ nói trên thì NHNN chắc sẽ phải “nói không” với kiến nghị này. Ngoài ra, việc nâng trần lãi suất tiền gửi USD lên một mức nào đó, ví dụ, 0,5%/năm thì vẫn không giải quyết căn bản được vấn đề là vừa thu hút được nguồn lực trong dân (lượng USD nắm giữ) vừa ngăn chặn được nạn “lách luật” bởi các ngân hàng thương mại trong việc thu hút tiền gửi USD. Vì khi áp lực huy động USD gia tăng thì mức trần 0,5% sẽ tiếp tục trở nên quá chật chội, khuyến khích các ngân hàng thương mại tiếp tục tìm cách lách luật. Đó là chưa kể nếu nâng trần lãi suất USD lên, ví dụ, 0,5% thì sẽ càng làm tăng tính hấp dẫn của USD so với tiền đồng, lại càng đi ngược chủ trương chống đô la hóa mà Chính phủ đã nhấn mạnh. 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).