Wednesday, 1 June 2016

Thông tư 36 sửa đổi: Tăng tỷ lệ mua trái phiếu Chính phủ, đối tượng nào hưởng lợi? (Bài đăng trên CafeF, bản gốc, 1/6/2016)

http://cafef.vn/thong-tu-36-sua-doi-tang-ty-le-mua-trai-phieu-chinh-phu-doi-tuong-nao-huong-loi-20160601083522241.chn

Thông tư 06/2016 ban hành tuần trước điều chỉnh tăng tăng tỷ lệ mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ so với nguồn vốn ngắn hạn của chi nhánh ngân hàng nước ngoài (từ 15% lên 35%), ngân hàng thương mại nhà nước (từ 15% lên 25%). Tỷ lệ này cho các loại hình tổ chức tín dụng khác được giữ nguyên (ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài 35%; tổ chức tín dụng phi ngân hàng 5%; ngân hàng hợp tác xã 35%).
Lý do điều chỉnh
Lý do của sự điều chỉnh trên có cả ở phía Chính phủ lẫn phía ngân hàng thương mại. Về phía Chính phủ, không ít lần có lời phàn nàn rằng các ngân hàng thương mại là đối tượng chính mua trái phiếu Chính phủ, được thể hiện qua con số tới 80% trái phiếu Chính phủ được mua bởi ngân hàng thương mại. Nhưng Thông tư 36/2014 của NHNN đã thắt chặt việc đầu tư trái phiếu Chính phủ của giới ngân hàng, khi đưa ra mức khống chế tỷ lệ tham gia mua trái phiếu chỉ bằng 15-35% vốn ngắn hạn, tùy thuộc loại hình ngân hàng thương mại. Nên không ít lần NHNN đã được khuyến nghị điều chỉnh tăng tỷ lệ này lên để các ngân hàng tăng cường mua thêm trái phiếu Chính phủ, góp phần giảm áp lực thâm hụt ngân sách.
Vê phía các ngân hàng thương mại, một số ý kiến nêu rằng Thông tư 36 quy định tỷ lệ tối đa so với nguồn vốn ngắn hạn mà chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng thương mại được mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ là 15% và 35% là không phù hợp với quy định theo Basel II và III về các chuẩn mực an toàn theo đó các ngân hàng có thể nắm giữ một lượng lớn trái phiếu Chính phủ nhiều nhất có thể. Ngoài ra, cũng có ý kiến yêu cầu đối xử công bằng khi áp giới hạn trên đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, như một điểm cần có để khuyến khích các thành phần tham gia phát triển thị trường nợ của Việt Nam, trong đó có trái phiếu Chính phủ.
Như vậy, có thể thấy NHNN đã phải chịu áp lực không nhỏ trong việc sửa đổi quy định liên quan trong Thông tư 36 cho phù hợp với yêu cầu, không chỉ từ thị trường mà còn từ quy chế, chuẩn mực quốc tế. Do đó, việc ban hành Thông tư 06 sửa đổi Thông tư 36 là một diễn biến tất yếu, có thể đoán định được từ trước.
Điều còn hơi băn khoăn ở đây là tại sao lại có con số 25% (cho ngân hàng thương mại nhà nước) và 35% (cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài)? Với con số 35%, có thể phỏng đoán điều này là vì các ngân hàng thương mại cổ phần vẫn được sử dụng 35% vốn ngắn hạn để đầu tư, mua trái phiếu Chính phủ, nên NHNN buộc phải nâng tỷ lệ tương ứng cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài để đảm bảo tính công bằng, cũng như tăng cường thêm một nguồn lực huy động so với trước đây.
Với tỷ lệ 25% áp dụng cho ngân hàng thương mại nhà nước, có lẽ lý do chỉ là do quy mô áp đảo của những ngân hàng này trong hệ thống ngân hàng làm cho chúng trở thành những “tay chơi” chủ chốt trên thị trường trái phiếu Chính phủ. Do đó, nếu đưa tỷ lệ áp dụng cho các ngân hàng này lên 35% bằng với các ngân hàng khác thì các ngân hàng thương mại nhà nước có khả năng sẽ “mua tranh bán cướp” trái phiếu Chính phủ với các ngân hàng thương mại nhỏ hơn khi cần thiết, nên, về nguyên tắc, lại tạo ra một sự bất công bang.
Tác động
Thông tư 06 được ban hành đúng vào thời điểm thanh khoản trong hệ thống ngân hàng đang dư thừa, lãi suất liên ngân hàng gần đây đã sụt giảm xuống mức thấp nhất trong vòng một năm trở lại đây. Bình thường, nếu còn bị “trói” bởi Thông tư 36 thì dù có thừa tiền, các ngân hàng thương mại cũng không thể đổ xô vào trái phiếu Chính phủ, và, do đó, tiền thừa thì vẫn cứ thừa còn trái phiếu Chính phủ “ế” thì vẫn cứ “ế”.
Với Thông tư 06, các ngân hàng có thêm room để tiêu bớt tiền thừa, đương nhiên với lãi suất đấu thầu trái phiếu có chiều hướng đi xuống do cầu tăng mạnh. Nói cách khác, cả Chính phủ và ngân hàng đều được lợi trong thời điểm hiện tại nhờ Thông tư 06.
Tuy nhiên, không có điều gì chỉ toàn làm lợi cho tất cả mọi người. Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn đầu tư, mua trái phiếu Chính phủ cũng là một con dao hai lưỡi khi vì một lý do nào đó thanh khoản trở nên eo hẹp hơn, và/hoặc nhu cầu tín dụng của nền kinh tế tăng mạnh. Hiện tại, thanh khoản dư thừa có thể vì hai yếu tố chính: NHNN đã nới lỏng cung tiền (một phần có thể do đã mua nhiều tỉ USD mà không trung hòa hết lượng VND đối ứng); và tăng trưởng tín dụng đã chựng lại trong tháng 5.
Khi một trong hai yếu tố này mất đi (NHNN không mua USD nữa vì lo ngại lạm phát quay đầu tăng trở lại, hoặc nhu cầu tín dụng được phục hồi do tăng trưởng kinh tế phục hồi) thì sẽ đến lúc trái phiếu Chính phủ sẽ phải cạnh tranh gay gắt với phần còn lại của nền kinh tế để thu hút nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng. Sự điều chỉnh tăng lên trong tỷ lệ vốn ngắn hạn được phép đầu tư vào trái phiếu Chính phủ sẽ vô hình trung giúp trái phiếu Chính phủ có thêm lợi thế trong cuộc cạnh tranh này.
Lúc này sẽ xảy ra hậu quả kép: không chỉ là mặt bằng lãi suất chung cao hơn mà còn là vốn ngân hàng lẽ ra dành cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, bị “cào” về phía Chính phủ, càng làm trầm trọng thêm nạn đói vốn (nhất là vốn với lãi suất thấp) cho các doanh nghiệp. Kết cục là tăng trưởng sụt giảm, mặc dù áp lực lên thâm hụt ngân sách được giải tỏa phần nào nhờ tiêu thụ được trái phiếu Chính phủ.
Lưu ý rằng cũng chính bởi quan ngại nói trên mà NHNN đã phải ban hành Thông tư 36. Nay nó được thay thế bởi Thông tư 06 với sự nới lỏng hơn đáng kể. Hiện tại, tuy tình hình xem ra vẫn đang ủng hộ Thông tư 06, nhưng vấn đề là tình hình thuận lợi này kéo dài được bao lâu, khi lạm phát đang có dấu hiệu tăng lên rõ rệt, buộc NHNN phải thận trọng hơn với chính sách tiền tệ, và, do đó, không sớm thì muộn thanh khoản sẽ trở nên căng thẳng?
Hy vọng rằng NHNN sẽ không sớm phải một lần nữa ban hành một thông tư khác để thay thế Thông tư 06 với tỷ lệ về vốn ngắn hạn được phép đầu tư vào trái phiếu lại được điều chỉnh thấp xuống như trước.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).