Tuesday, 26 July 2016

Mục tiêu phải thực tế hơn (Trả lời phỏng vấn trên Đại biểu Nhân dân, 26/7/2016)

http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=375717

Không thể hoàn thành
- Nghị quyết của QH yêu cầu Chính phủ, các bộ, ngành trong năm 2016, cơ bản hoàn thành CPH doanh nghiệp nhà nước và xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế. Ông nghĩ như thế nào về mục tiêu này?
- Tôi nghĩ yêu cầu này không có tính khả thi. Nhớ lại mấy năm trước đã có kế hoạch CPH gần 500 doanh nghiệp nhà nước với rất nhiều quyết tâm và hứa hẹn của Chính phủ, các bộ, ngành mà rốt cuộc chỉ CPH được một số ít trong con số đó.
Vấn đề đáng nói nữa là sự việc dở dang như vậy nhưng không một ai phải chịu trách nhiệm và bị xử lý, mặc dù không ít lần Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành những nghị quyết đốc thúc CPH với lời “đe dọa” sẽ xử lý người đứng đầu cản trở việc này. Nói cách khác, không chỉ là thời gian quá gấp rút (chưa đầy nửa năm nữa) mà còn do sức ì, sự thiếu trách nhiệm, hay sự vụ lợi của những người liên đới sẽ làm cho việc CPH doanh nghiệp nhà nước không thể hoàn thành về cơ bản trong năm nay.
- Vậy còn yêu cầu “xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế” thì sao, thưa ông? 
- Về yêu cầu này, tôi nghĩ rằng nếu có thể thực hiện được thì chỉ là trong một bộ phận doanh nghiệp đã CPH một thời gian trước đây. Những doanh nghiệp này đã có quá trình chuẩn bị, hoặc dưới sức ép của cổ đông (nếu là doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm cổ phần chi phối) mới có thể thực hiện được.
Đối với những doanh nghiệp nhà nước còn lại, đang hoặc chưa CPH thì ngay việc có CPH được hay không cũng đã là điều chưa chắc chắn thì không thể hy vọng chúng sẽ xây dựng được hệ thống quản trị doanh nghiệp (nhà nước) tiên tiến, tức là phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế.
Trong trường hợp QH yêu cầu Chính phủ xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp nhà nước cho các doanh nghiệp nhà nước nguyên trạng (chứ không phải doanh nghiệp nhà nước sau CPH) thì yêu cầu này cũng là không tưởng. Vì, cũng như đã đề cập đến, thời gian còn lại của năm nay chỉ còn khoảng hơn 5 tháng nữa. Với thời gian ngắn ngủi này thì thậm chí chưa đủ để nghiên cứu và hiểu hết khái niệm quản trị doanh nghiệp nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường và cả thông lệ quốc tế.
Quan trọng hơn, quản trị doanh nghiệp nhà nước là một chuyện, để nền quản trị này có phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế hay không lại là chuyện hoàn toàn khác, không phụ thuộc vào ý chí của doanh nghiệp, thậm chí cả Chính phủ. Ví dụ, quản trị doanh nghiệp yêu cầu doanh nghiệp phải theo đuổi lợi nhuận, nhưng vì là doanh nghiệp nhà nước nên nó vẫn phải thực hiện những “sứ mệnh” như bình ổn thị trường mà một cơ quan chủ quản hay chính quyền yêu cầu, tức là một sứ mệnh đi ngược lại nguyên tắc thị trường. Vậy thì để áp dụng được hệ thống quản trị doanh nghiệp nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế thì trước tiên phải biến doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp phi nhà nước. Nghĩa là phải CPH, biến nó thành doanh nghiệp tư nhân, cùng lắm thì có cổ phần nhà nước đã rồi mới tính đến chuyện áp dụng hệ thống quản trị doanh nghiệp tiên tiến.
Nền kinh tế tiếp tục “è cổ” bù lỗ
 - Việc không đạt được mục tiêu của QH đề ra theo ông sẽ dẫn tới hậu quả gì?
 - Để tránh được phần nào kết cục không mấy tốt đẹp là QH đặt ra mục tiêu nhưng Chính phủ không thực hiện được thì trước tiên QH cũng phải nhìn vấn đề thực tế hơn, bằng cách không đặt yêu cầu phải thực hiện xong CPH ngay trong năm nay, vì như đã nói, thời gian không còn nhiều. Nếu cứ khăng khăng với mục tiêu như vậy thì chẳng khác gì QH “đánh đố” Chính phủ.
Nếu QH đã giãn thời gian thực hiện, ví dụ đến hết năm 2017, mà Chính phủ không thực hiện được, thì hậu quả đương nhiên vẫn sẽ là nền kinh tế phải tiếp tục “è cổ” bù lỗ cho các doanh nghiệp nhà nước. Bởi đa phần những doanh nghiệp này càng tồn tại với tư cách doanh nghiệp nhà nước ngày nào thì càng tiếp tục thua lỗ, thất thoát mà thôi.
- Theo ông, vướng mắc lớn nhất hiện nay của CPH là gì?
- Đó là tình trạng những người liên đới không mặn mà thực hiện, vì sợ mất ghế, mất quyền lợi… Để đẩy nhanh CPH thì phải gắn nó với trách nhiệm cá nhân, người đứng đầu, mà xét tới cùng chính là Thủ tướng Chính phủ. Khi trách nhiệm được quy định rõ ràng thì CPH mới có thêm nhiều khả năng thành công.
- Xin cảm ơn ông!
Hồng Loan thực hiện

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).