Saturday, 20 August 2016

Để hạn chế chỉ định thầu: Quan trọng là giám sát (Bài đăng trên TBKTSG, 20/8/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/150184/De-han-che-chi-dinh-thau-Quan-trong-la-giam-sat.html

Với Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2014 và Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu (NĐ63) có hiệu lực thi hành vào ngày 15/8/2014, nhiều người hy vọng tình trạng chỉ định thầu sẽ được giảm thiểu. Tuy vậy, trên thực tế, tình trạng chỉ định thầu thay cho đấu thầu công khai, rộng rãi trong nước và quốc tế vẫn còn tràn lan.
Cụ thể, theo tổng hợp của Bộ KH&ĐT, trong các năm 2010-2014, tỷ lệ gói thầu áp dụng chỉ định thầu trên tổng số gói thầu thực hiện trong năm đứng ở mức từ 73% đến 75%. Sang năm 2015, tức là hơn một năm sau ngày Luật Đấu thầu và NĐ63 có hiệu lực, trong tổng số 153.955 gói thầu được thực hiện theo Luật đấu thầu 2013 trên cả nước, vẫn có tới 105.472 gói đấu thầu là theo hình thức chỉ định thầu, chiếm 69% tổng số gói thầu thực hiện cả năm.
Không phải tại luật
Cần nói ngay rằng nguyên nhân cho tình trạng chỉ định thầu vẫn còn tràn lan như nói ở trên không phải là do thiếu luật hay luật yếu. Nếu so sánh các điều khoản quy định về chỉ định thầu trong Luật Đấu thầu và NĐ63 với các điều khoản luật tương tự của các nước phát triển như Bắc Mỹ và châu Âu thì có thể thấy các điều khoản luật lệ tương ứng ở Việt Nam hoàn toàn đầy đủ và rõ ràng.
Chẳng hạn, các trường hợp được áp dụng chỉ định thầu ở Canada là các trường hợp: (1) khẩn cấp, các cơ quan Chính phủ cần mua ngay được các hàng hóa và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu bảo vệ sức khỏe, phúc lợi hay an toàn công cộng; và (2) hàng hóa và dịch vụ cần mua từ nhà cung cấp được chỉ định thuộc chủng loại đặc thù, đáp ứng được yêu cẩu của Nhà nước.
Ở Việt Nam, pháp luật thậm chí còn quy định rõ ràng, chi tiết hơn các điều kiện được chỉ định thầu, gồm (1)  Gói thầu cần thực hiện để khắc phục ngay hoặc để xử lý kịp thời hậu quả gây ra do sự cố bất khả kháng…; (2) Gói thầu cấp bách cần triển khai nhằm mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia, biên giới quốc gia, hải đảo; (3) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa phải mua từ nhà thầu đã thực hiện trước đó do phải bảo đảm tính tương thích về công nghệ, bản quyền mà không thể mua được từ nhà thầu khác; (4) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế xây dựng được chỉ định cho tác giả của thiết kế kiến trúc công trình trúng tuyển hoặc được tuyển chọn khi tác giả có đủ điều kiện năng lực theo quy định; (5) Gói thầu di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật do một đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý để phục vụ công tác giải phóng mặt bằng..; và (6) Gói thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gói thầu có giá gói thầu trong hạn mức được áp dụng chỉ định thầu theo quy định của Chính phủ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Cũng không phải riêng Việt Nam
Cần biết thêm một sự thực nữa là chuyện chỉ định thầu tràn lan không chỉ có riêng ở Việt Nam mà còn có cả ở những nước phát triển, ví dụ Mỹ. Theo báo The Washington Post,[1] năm 2009 Tổng thống Obama nói với các cơ quan Chính phủ rằng việc phụ thuộc vào các đơn đặt hàng không qua đấu thầu “tạo ra rủi ro rằng tiền thuế sẽ bị chi cho những hợp đồng lãng phí, không hiệu quả, dễ bị lạm dụng, hoặc không đáp ứng được nhu cầu của Chính phủ Liên bang hoặc lợi ích của người nộp thuế ở Mỹ”.
Nhưng trong vòng 4 năm sau đó, chính quyền của ông Obama đã chi nhiều tiền hơn cho các hợp đồng loại này so với các chính quyền trước đó. Cụ thể, thống kê cho thấy các cơ quan Chính phủ đã chi trả 115 tỷ đô la cho các hợp đồng chỉ định thầu năm 2012, tăng tới 8,9% so với năm 2009. Đáng chú ý hơn, sự tăng này xảy ra trong bối cảnh tổng giá trị thầu của các cơ quan Chính phủ lại giảm đi 5% so với năm 2009. Điều này có nghĩa là mặc dù chiếc bánh (tổng số gọi thầu) bé lại nhưng con số về chỉ định thầu lại tăng lên – một sự kết hợp đáng lo ngại!
Và cũng tương đồng về lý do chỉ định thầu
Những lý do mà các cơ quan Chính phủ ở Mỹ thích chỉ định thầu, theo The Washington Post, là các cơ quan này thường chỉ xem xét đến duy nhất một công ty cung cấp hàng hóa và dịch vụ khi họ cần hành động khẩn cấp, hoặc nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ có chuyên môn đặc thù, hoặc các cơ quan Chính phủ chỉ muốn làm việc với các nhà cung cấp có năng lực đã được thực tế kiểm chứng trong các hợp đồng với họ trước đây. Với các cơ quan Chính phủ, những hợp đồng chỉ định thầu như thế này sẽ tiết kiệm được thời gian cần thiết để mua hàng hóa và dịch vụ, mặc dù họ biết rõ rằng các hợp đồng loại này do không phải cạnh tranh nên thường bị đội giá.
Ở Việt Nam, lý do được đưa ra để biện minh cho việc chỉ định thầu là cũng khá tương đồng như ở Mỹ, cụ thể thường là do tính “cấp bách” của dự án, hay do tính “đặc thù” của hàng hóa và dịch vụ mà các cơ quan mời thầu ở Việt Nam cần. Mặc dù thực tế thì ở Việt Nam có phần “tệ” hơn ở Mỹ. Nhiều dự án “cấp bách” nhưng sau khi đã được giải ngân thì lại được triển khai chậm chạp mà chẳng ai hề hấn gì; hay các dự án cung cấp sản phẩm và dịch vụ mang tính “đặc thù” nhưng có thể dễ dàng tìm được nhiều nhà cung cấp khác trong nước và quốc tế.
Vậy có cách nào để hạn chế chỉ định thầu?
Những phân tích và so sánh ở trên cho thấy tình trạng chỉ định thầu tràn lan không phải là ngoại lệ ở Việt Nam và cũng không phải do Việt Nam thiếu luật hay luật yếu. Vấn đề rõ ràng là nằm ở việc quyết định lựa chọn hình thức gọi thầu mua sắm tại các cơ quan có nhu cầu mua sắm hàng hóa và dịch vụ bằng tiền ngân sách.
Nếu cứ để cho người có trách nhiệm của những cơ quan này tùy ý quyết định (lựa chọn giữa đấu thầu công khai hay chỉ định thầu) thì khó tránh được rủi ro là quyết định của họ mang động cơ vụ lợi, và do đó họ sẽ có xu hướng chọn chỉ định thầu thay vì đấu thầu, với nhiều lý do thuyết phục.
Để hạn chế tình trạng này thì cần tăng cường thanh tra, giám sát chặt chẽ các quyết định chỉ định thầu thay cho đấu thầu rộng rãi. Đương nhiên là vẫn còn đó rủi ro là ngay cả các cán bộ thanh tra, giám sát cũng cấu kết với những người có trách nhiệm ở các cơ quan mua sắm. Bởi vậy, cần thêm một bước đi nữa là tăng cường tính công khai, minh bạch hóa các vấn đề liên quan đến gọi thầu để người dân và các cơ quan thông tin báo chí có thể tham gia theo dõi, giám sát, kịp thời phát hiện và phản ánh các khuất tất, gian dối.


[1] https://www.washingtonpost.com/business/economy/no-bid-us-government-contracts-jump-9-percent-despite-push-for-competition/2013/03/17/9f6708fc-8da0-11e2-b63f-f53fb9f2fcb4_story.html

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).