Wednesday, 17 August 2016

Giới hạn tăng trưởng (Bài đăng trên ĐBND, 28/7/2016)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=375811


Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm chỉ tăng 5,52%, thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ năm 2015 (6,47%). Để đạt được tốc độ tăng trưởng GDP cả năm là 6,7% thì tăng trưởng 6 tháng cuối năm phải đạt được 7,6%, một mức rất cao trong bối cảnh hiện nay. Tuy vậy, trong báo cáo gửi tới Quốc hội, một mặt Chính phủ cho rằng khó đạt được mục tiêu 6,7% tăng trưởng đã đề ra, nhưng mặt khác lại khẳng định rằng mục tiêu này “vẫn có khả năng đạt được”.

Có một số lý do để Chính phủ vẫn nhìn thấy khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng như vậy trong nửa sau năm nay. Đó là những cải thiện trong tổng cầu và sức mua của thị trường trong nước, tổng đầu tư toàn xã hội, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao, sự phục hồi của công nghiệp chế biến và tăng trưởng cao của khu vực dịch vụ...

Đồng thời, việc ký kết và thực hiện các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới sẽ mang lại những đột phá về đầu tư kinh doanh, mở rộng thị trường xuất khẩu. Việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đang được các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt.

Về lý do có sự cải thiện trong tổng cầu và sức mua của thị trường, không rõ báo cáo dựa vào những căn cứ nào để đưa ra nhận định như vậy. Thông thường, có một mối liên hệ rõ ràng giữa tăng trưởng GDP với các chỉ tiêu phản ánh sức mua cũng như tổng cầu. Nhưng tăng trưởng 6 tháng đầu năm đã chậm hẳn lại so với cùng kỳ năm trước, tức là thu nhập của người dân và doanh nghiệp cũng tăng chậm lại. Vì cái gốc đã suy yếu như vậy nên khó có thể thuyết phục rằng tổng cầu và sức mua sẽ mạnh lên trong nửa năm còn lại, do đó tăng trưởng nửa năm sau sẽ hứa hẹn đạt mức cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước.  

Về lý do tổng đầu tư toàn xã hội trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao, cũng tương tự như trên, nếu thực sự những nguồn vốn này đã tăng cao thì tăng trưởng GDP nửa đầu năm sẽ phải khác đi nhiều. Ngoài ra, cũng chưa có cơ sở nào để tin rằng các nguồn vốn này sẽ tiếp tục tăng mạnh hơn (nhiều) trong nửa năm còn lại để thúc đẩy tăng trưởng GDP mạnh mẽ hơn nữa.

Với sự phục hồi của công nghiệp chế biến, vấn đề đặt ra là sự phục hồi này có bền vững và kéo dài sang hết nửa năm sau hay không? Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự phục hồi của ngành công nghiệp chế biến chắc chắn sẽ là đầu ra xuất khẩu. Nhưng thị trường xuất khẩu của ngành chế biến Việt Nam có tăng trưởng mạnh hay không lại phụ thuộc vào nhu cầu của thế giới, vốn cũng là yếu tố lên xuống bất thường, không thể kiểm soát và nói chắc được.

Sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ tuy có cao hơn cùng kỳ năm trước (6,35% so với 5,86%) nhưng cũng chưa phải là một sự bứt phá mạnh mẽ, và cũng chưa hứa hẹn sẽ bứt phá mạnh mẽ hơn nữa trong nửa năm sau, vì du lịch và dịch vụ miền Trung, nơi bị ảnh hưởng của sự cố ô nhiễm môi trường, nếu có hồi phục cũng chỉ diễn ra từ từ và trong thời gian dài.   

Việc ký kết các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới tuy đã diễn ra nhưng chưa có hiệp định mới, quan trọng nào như TPP và EVFTA sẽ có hiệu lực từ nửa năm cuối của năm nay (các hiệp định khác như với Hàn Quốc thì đã có hiệu lực từ đầu năm). Như vậy, kỳ vọng có những đột phá về đầu tư kinh doanh và mở rộng thị trường xuất khẩu nhờ những hiệp định tự do thương mại nếu có thì cũng phải mất ít nhất hàng năm nữa.

Việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tuy đang được đốc thúc quyết liệt từ trên xuống, nhưng để thay đổi được những bất cập đã ăn sâu thành gốc rễ trong hệ thống chính quyền và nền hành chính từ trung ương đến địa phương chắc chắn không phải là công việc một sớm một chiều, mà đòi hỏi thời gian nhiều năm. Vậy thì nếu có thay đổi thì những thay đổi như vậy chỉ mang tính cục bộ, ở một vài địa phương (ví dụ, thành phố Hồ Chí Minh, trong một vài địa hạt và lĩnh vực hạn hẹp, nhờ dấu ấn cá nhân của Bí thư thành phố Đinh La Thăng). Do đó, cũng là quá sớm để lạc quan rằng việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh này sẽ mang lại ngay kết quả rõ rệt trong nửa năm còn lại.
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy việc “thúc” tăng trưởng nửa năm còn lại hoặc là không thể, hoặc là phải trả giá đắt nếu cứ nhắm mắt mà thực hiện. Tổng cầu và sức mua có thể tăng vọt chỉ cần bằng cách in tiền. Nhưng cái giá phải trả sẽ là lạm phát tăng vọt.

Sự phục hồi của ngành công nghiệp và dịch vụ cũng có thể đạt bước nhảy vọt nếu ồ ạt ném tiền đầu tư vào mở rộng sản xuất, tăng quy mô. Nhưng cái giá phải trả là hàng hóa và dịch vụ sẽ dư thừa, không tiêu thụ được, hàng tồn kho tăng cao, xuất hiện thêm các dự án “đắp chiếu”.

Vậy tăng trưởng cả năm nay gần như chắc chắn sẽ không đạt được mục tiêu đề ra vì dư địa còn lại và “an toàn” cho tăng trưởng chính là cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, mà, như đã nói ở trên rằng việc này không thể diễn ra một sớm một chiều.

Chính phủ và Quốc hội cần phải hiểu rõ những giới hạn trên để không biến mục tiêu tăng trưởng 6,7% thành mồi lửa cho những bất ổn vĩ mô, những hậu quả to lớn và lâu dài để lại cho nền kinh tế từ những quyết định sai lầm như đã xảy ra trong quá khứ.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).