Friday, 5 August 2016

Tiền nào cũng là tiền! (Bài đăng trên TBKTSG, 5/8/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/149636/Tien-nao-cung-la-tien.html

Việc Bộ Giao thông vận tải đề xuất vay 7.000 tỷ đồng (vốn ODA) của Trung Quốc triển khai dự án đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái đã nhận được sự phản hồi trái chiều của dư luận. Thực trạng nhiều dự án hạ tầng sử dụng vốn vay Trung Quốc chậm tiến độ, đội vốn và kém hiệu quả đang diễn ra là tiếng chuông cảnh tỉnh liên quan đến yếu tố Trung Quốc, chưa kể đến khía cạnh chính trị khi những khoản vay kiểu này xem ra càng làm tăng thêm sự phụ thuộc vào Trung Quốc trong khi ngày càng nhiều người muốn đất nước “thoát Trung”.
Do chưa có nhiều thông tin về đề xuất vay 7.000 tỷ đồng này nên cũng khó có thể có ngay câu trả lời là Việt Nam nên hay không nên vay để làm đường cao tốc. Nhưng có một số nguyên tắc chung, có thể làm nền tảng để phân tích việc nên hay không đi vay Trung Quốc.
Nguyên tắc đầu tiên, vốn vay ODA từ nước nào cũng đều là vốn vay ưu đãi, tức lãi suất thấp hơn vốn vay thương mại, có thời gian ân hạn, và thời gian trả nợ kéo dài hàng chục năm, nên chúng hầu như đi kèm với điều kiện hoặc có lợi cho nước cho vay, hoặc buộc nước sử dụng phải tuân thủ một số yêu cầu đặc thù nào đó.
Bởi vậy, nếu khoản vốn vay 7.000 tỷ nói trên có đi kèm với điều kiện là phải sử dụng nhà thầu Trung Quốc và vật liệu từ Trung Quốc thì cũng là một điều bình thường. Phía sử dụng, là Bộ Giao thông vận tải, phải tính toán và so sánh các điều kiện vay của khoản vốn này với các khoản vốn từ các nguồn khác, nếu có. Nếu theo tính toán mà khoản vay từ Trung Quốc mà rẻ hơn, có lợi hơn trên tổng thể thì không có lý do gì để không vay.
Điều quan trọng ở đây chỉ là liệu những người thực hiện nhiệm vụ tính toán này có đủ trình độ và đủ công tâm, khách quan để tính toán hay không, và không chịu bất cứ một sức ép hay một mối lợi “nhạy cảm” nào đó “bẻ cong” ngòi bút của họ hay không mà thôi. Mà muốn vậy thì buộc phải công khai những điều kiện, những yếu tố và dữ liệu đầu vào để dư luận có thể phản biện, góp ý.
Nguyên tắc thứ hai, dù là vốn ODA, nhưng không có nghĩa là nước sử dụng, Việt Nam trong trường hợp này, sẽ lâm vào tình thế “há miệng mắc quai”, để mặc phía nhà thầu Trung Quốc muốn tác oai tác quái, làm gì thì làm mà vẫn phải nhẫn nhịn, chịu đựng hoặc cùng lắm là “kêu gọi” với “đề nghị”. Bởi dù là Việt Nam sẽ phải chấp nhận nhà thầu, thiết bị, vật liệu và nhân công Trung Quốc nhưng mọi việc đều phải diễn ra trong khuôn khổ các hợp đồng cam kết đã ký giữa các bên liên đới. Nếu thực hiện nghiêm hợp đồng thì mọi vi phạm, nếu có, của nhà thầu Trung Quốc sẽ bị phạt nặng hay nhẹ theo mức độ vi phạm các điều khoản này. Nên điều quan trọng ở đây là phía Việt Nam khi ký kết hợp đồng có “khờ dại” chấp nhận những điều khoản sơ hở, có lợi cho phía nhà thầu Trung Quốc, gây bất lợi cho Việt Nam hay không, như những lý do được viện dẫn đây đó để biện minh cho sự chậm trễ trong dự án, ví dụ như Gang thép Thái Nguyên mới đây.
Để sự “khờ dại” này không tái diễn hoặc vì sự thiếu hiểu biết của những người trong cuộc phía Việt Nam, hoặc là hậu quả của một sự cố tình để trục lợi cá nhân hay của một nhóm lợi ích thì, lại một lần nữa, chuyện đảm bảo sự công khai, minh bạch, và khách quan là rất quan trọng ở đây. Nếu phía sử dụng vốn là chủ đầu tư cùng với nhà thiết kế, tư vấn và giám sát cảm thấy không đủ trình độ (để sau này không còn viện lý do “chưa có kinh nghiệm”) thì buộc phải thuê nhà thiết kế, tư vấn và giám sát độc lập có uy tín, từ nước ngoài.
Nguyên tắc thứ ba, vay ODA nhưng cũng phải có mục đích xác đáng. Không rõ dự án đường cao tốc Móng Cái – Vân Đồn nói trên có nằm trong quy hoạch phát triển đường cao tốc của Việt Nam hay không, nó có thực sự có nghĩa phát triển kinh tế xã hội hay không (nếu so với việc rót khoản vốn này vào những đường cao tốc khác hay những dự án phát triển hạ tầng khác), hay nó chỉ là một phần trong chiến lược phát triển của… Trung Quốc!
Đã có đây đó một số dự án phát triển hạ tầng cơ sở mà Trung Quốc đề xuất cho các nước láng giềng, đề xuất cho vay vốn để thực hiện. Điểm chung của những dự án này là chúng phục vụ cho một chiến lược dài hạn của Trung Quốc kết nối và làm lan tỏa sự ảnh hưởng về kinh tế và chính trị của nước này ra khu vực, châu lục và quốc tế. Như vậy, các dự án này rõ ràng là cấp thiết và có lợi cho Trung Quốc, nhưng chúng không nhất thiết là có lợi, cấp thiết cho những nước láng giềng, những nước sử dụng vốn của Trung Quốc.
Bởi vậy, dự án đường cao tốc Móng Cái – Vân Đồn trước tiên phải được xem xét từ góc độ này. Nếu câu trả lời là nó cũng rất có ý nghĩa và cấp thiết cho Việt Nam, và nếu phía Bộ Giao thông vận tải cũng có câu trả lời rõ ràng rằng các điều kiện của khoản vay 7.000 tỷ đồng từ Trung Quốc này là thuận lợi hơn so với từ những nguồn vay khác thì không có lý do gì lại không vay, dù là từ Trung Quốc.
Nguyên tắc thứ tư, vay ODA từ Trung Quốc có thể buộc phải sử dụng nhà thầu, công nghệ, vật liệu của Trung Quốc nhưng không có nghĩa là mọi thứ của, có nguồn gốc từ Trung Quốc đều kém, là thứ phẩm, hoặc Việt Nam buộc phải chấp nhận mọi thứ thứ phẩm mà nhà thầu Trung Quốc mang sang và/hoặc tạo ra ở Việt Nam.
Công nghệ, nhân công và nhà thầu Trung Quốc (trong lĩnh vực đường cao tốc) hiện đã tràn lan ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả những nước phát triển. Nên vì thế không thể có con mắt hoàn toàn ác cảm với những thứ này của Trung Quốc. Thậm chí, điểm tích cực của phía Trung Quốc là họ có chất lượng đảm bảo với giá thành cực kỳ cạnh tranh nên mới thắng thầu trong những công trình ở nước ngoài như vậy.
Với Việt Nam, tuy có thể buộc phải chấp nhận chỉ định thầu hay chấp nhận để nhà thầu mang nhân công và vật liệu sang Việt Nam nhưng phía Việt Nam vẫn hoàn toàn có thể ngăn chặn được những thứ “phế phẩm”, những thứ không đáp ứng tiêu chuẩn công nghệ tham chiếu, đặc biệt khi được quy định rõ ràng như vậy trong các hợp đồng xây dựng ký kết với phía Trung Quốc. Nếu đã quy định như vậy mà vẫn để “lọt lưới” những sản phẩm kém chất lượng vào Việt Nam và/hoặc được tạo ra ở Việt Nam thì phía Việt Nam cần chiểu theo các thỏa thuận đã ký kết, các tiêu chuẩn chất lượng tham chiếu để xử phạt phía nhà thầu Trung Quốc. Nếu không thực hiện (được) thì rõ ràng vấn đề nằm ở phía Việt Nam chứ không phải ở các yếu tố Trung Quốc.
Tóm lại, tiền vay từ Trung Quốc thì cũng vẫn là tiền, và thuần túy chỉ là tiền. Những khoản vay này vẫn có thể cần thiết và có ý nghĩa với Việt Nam nếu Việt Nam biết cách vay và sử dụng đúng đắn và hợp lý.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).