Wednesday, 7 September 2016

Xây dựng nông thôn mới - cần thực chất hơn (Bài đăng trên TBKTSG, 7/9/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/150803/Xay-dung-nong-thon-moi---can-thuc-chat-hon.html

Thủ tướng Chính phủ mới ban hành Quyết định phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020. Quyết định này đề cập đến 11 nội dung thành phần như quy hoạch xây dựng nông thôn mới, phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, giảm nghèo và an sinh xã hội, phát triển y tế, giáo dục, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa, vệ sinh môi trường, nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn...

Các nội dung thành phần này có nêu các tiêu chí định lượng rất cụ thể bằng những con số thậm chí tính đến cả hàng thập phân, mà phổ biến nhất là (phấn đấu) có (tối thiểu) bao nhiêu phần trăm xã, huyện phải đạt chuẩn từng tiêu chí vào năm 2020. Mỗi một tiêu chí trong mỗi nội dung thành phần được giao cho các bộ, ngành liên quan chủ trì, hướng dẫn thực hiện.

Chỉ cần nhìn vào những nội dung trên cũng đủ thấy đây là một chương trình hết sức tham vọng, bao phủ sâu rộng mọi mặt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của người dân sống ở nông thôn, đòi hỏi sự tham gia của không chỉ toàn bộ các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội từ trung ương đến địa phương mà còn của từng cá nhân và hộ gia đình ở nông thôn. Chương trình này cũng không chỉ sử dụng tối đa nguồn lực từ ngân sách trung ương và địa phương mà còn phải huy động cả sức người và của từ cộng đồng dân cư địa phương.

Với một chương trình quốc gia đồ sộ và tham vọng như thế này, nỗi quan ngại của nhiều người sẽ là khả năng thực hiện đến đâu, kết quả có thực chất hay không, những công việc thực hiện được có thực sự góp phần nâng cao đời sống của dân cư hay không, có phòng chống được thất thoát, lãng phí trong quá trình thực hiện hay không, có để lại gánh nặng tài chính và di chứng lâu dài, khó khắc phục cho ngân sách địa phương và quốc gia trong những năm sau hay không…

Những nỗi quan ngại trên là hoàn toàn có cơ sở. Nếu chọn ra và tìm hiểu sâu thêm một số tiêu chí đặt ra cho chương trình nông thôn mới như dưới đây sẽ thấy có nhiều vấn đề đáng phải xem xét lại trước khi tiến hành rầm rộ chương trình trên quy mô cả nước.

Về tiêu chí quy hoạch xây dựng nông thôn mới, để đạt được tiêu chí này thì chỉ cần có quy hoạch được phê duyệt. Nhưng ngay cả chuyên gia của Bộ Xây dựng cũng phải thừa nhận các đồ án quy hoạch nhìn chung đạt chất lượng chưa tốt, vì có rất ít kinh nghiệm quy hoạch, thiếu lực lượng tư vấn làm quy hoạch nông thôn, không có tổ chức tư vấn nào có đủ năng lực đồng bộ trên cả ba lĩnh vực quy hoạch (quy hoạch xây dựng, quy hoạch sản xuất và quy hoạch sử dụng đất).[1] Trong bối cảnh như vậy, việc phấn đấu xã nào, thôn nào cũng có quy hoạch xây dựng nông thôn mới có lẽ chỉ dẫn đến kết quả là người ta sẽ nhân bản các quy hoạch “điểm” để đạt thành tích, và cấp phê duyệt có lẽ cũng “nhắm mắt cho qua” cũng vì để đạt thành tích. Mà nếu đã sai ngay từ khâu cơ bản là quy hoạch thì không khó để hình dung bộ mặt thật của nông thông mới sẽ ra làm sao, cũng tương tự chuyện có thật là bệnh viện nhân bản kết quả xét nghiệm của bệnh nhân này dùng để điều trị bệnh nhân kia.

Về tiêu chí phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, dường như tiêu chí này đã và đang được triển khai một cách rầm rộ, nhiệt thành nhất. Kết quả là nông thôn mới chưa thấy đâu nhưng nhiều địa phương đã để lại một núi nợ đọng trong xây dựng nông thôn mới, mà theo nhà chức trách là do các địa phương chạy theo thành tích nên huy động quá sức dân, không có khả năng thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản. Ở đây cho thấy dấu ấn yếu kém, duy ý chí của công tác quy hoạch, lập kế hoạch triển khai nông thôn mới từ trung ương đến địa phương. Nếu đã biết đến hạn chế trong huy động nguồn lực từ trung ương, địa phương và trong dân chúng thì người ta đã không đặt ra chỉ tiêu thực hiện tham vọng và gấp rút như vậy, để rồi khuyến khích các địa phương tìm mọi cách “phấn đấu” thực hiện cho bằng được chỉ tiêu này, kể cả những cách thức không bền vững. Và khi đã dồn hết lực vào xây dựng cơ bản rồi thì cũng sẽ chẳng còn tiền đâu cho việc thực hiện các tiêu chí khác.

Đáng nói hơn nữa là thành quả xây dựng nông thôn mới được nhiều địa phương thể hiện ra thành những công trình xây dựng tiền tỉ như trụ sở, nhà văn hóa, chợ, thậm chí là nhà nghỉ dưỡng cho nông dân… nhưng hầu như bị bỏ không, cửa đóng then cài quanh năm. Nhiều trong số những công trình này chỉ là cái vỏ, với chất lượng chưa khánh thành đã xuống cấp, trang thiết bị thiếu thốn, không phát huy được công năng, vì người ta chỉ chú trọng đến tô vẽ bộ mặt để lập thành tích mà không xét đến nhu cầu thật sự và cấp bách của dân. Nếu chỉ quan tâm đến những thứ “mặt tiền” này mà bỏ qua phần nội dung thì quả thật sẽ có một nông thôn trông có vẻ mới hơn, khang trang hơn, nhưng về cơ bản vẫn là nông thôn cũ với những thứ bên trong khó đo đếm được lại hầu như không thay đổi, trừ khi người ta cố tình làm cho chúng trở nên tốt hơn trên giấy tờ.

Về tiêu chí phát triển sản xuất, không rõ các nhà hoạch định dựa vào cơ sở nào để đưa ra chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn là 44 triệu đồng/người vào năm 2020, tăng từ mức 26 triệu đồng/người năm 2015. Một phép tính nhanh cho thấy để đạt mục tiêu này thì mỗi năm trong giai đoạnh 2016-2020, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn phải tăng bình quân là 11,1%/năm. Tất nhiên, đây là mức tăng danh nghĩa, nên nếu tính cả lạm phát, giả sử là 5%/năm trong giai đoạn này thì mức tăng thực tế sẽ là khoảng 6%/năm. Trong khi đó, tăng trưởng GDP bình quân cả nước phấn đấu đạt 6,5%-7%/năm. Với tốc độ tăng dân số phấn đấu giữ ở mức 1%/năm, như vậy tăng trưởng GDP bình quân đầu người cả nước trong giai đoạn này sẽ là 5,5%-6,5%/năm, tức cũng tương đương mục tiêu tăng thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn. Lưu ý rằng yếu tố kéo GDP cả nước là tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ, ở các khu vực thành thị và công nghiệp, chứ không phải ở khu vực nông thôn nên thông thường tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn sẽ phải thấp hơn đáng kể, chứ không thể tương đương với tốc độ tăng thu nhập (hoặc tăng GDP) bình quân đầu người cả nước. Bởi vậy, đặt mục tiêu tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn như trong chương trình nông thôn mới như hiện nay cũng là duy ý chí, không có tính thực tiễn, nên nếu thực tế có đạt được mục tiêu này thì chắc chắn đó là do “vẽ ra” trên giấy.

Tóm lại, phong trào xây dựng nông thôn mới cho thấy hơi hướng của các phong trào rầm rộ trong cả nước trước đây, như phong trào hợp tác hóa, thủy lợi hóa, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, đi kinh tế mới… nhưng với quy mô và tầm ảnh hưởng thậm chí còn lớn hơn nhiều. Điểm chung của những phong trào này là sự duy ý chí với quy hoạch và kế hoạch thực hiện được lập ra trên bàn giấy, xa rời thực tiễn, bất chấp năng lực thực hiện. Do người lãnh đạo các địa phương phải đạt được các mục tiêu chung đề ra nên họ phải dùng nhiều thủ đoạn và phương cách, cả tốt lẫn xấu để cốt sao “về đích” và hoàn thành kế hoạch, mà không ít trường hợp là ngụy tạo, không thực chất.

Trong bối cảnh nguồn lực cả nước đang eo hẹp, phải dàn trải để giải quyết nhiều vấn đề cấp bách, chương trình xây dựng nông thôn mới nên được thực hiện một cách có chọn lọc, về mục tiêu và phạm vi, để không chỉ có thêm nhiều khả năng mang lại những kết quả thiết thực hơn, mà còn giúp tiết kiệm cho ngân sách quốc gia những khoản chi khổng lồ, không đẩy nền kinh tế lún thêm vào vũng lầy nợ nần kéo dài trong nhiều năm sau này.


[1] http://kientrucvietnam.org.vn/quy-hoach-xay-dung-nong-thon-moi-nhung-van-de-dat-ra/

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).