Friday, 21 October 2016

Dùng ngân sách để xử lý nợ xấu là chưa thỏa đáng (Bài đăng trên TBKTSG, bản gốc, 21/10/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/152820/Dung-ngan-sach-de-xu-ly-no-xau-la-chua-thoa-dang.html

Tại “Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2016 trong giai đoạn mới: thách thức tái cơ cấu và triển vọng”, ông Trương Văn Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đã đưa ra một số lập luận về chuyện cần thiết phải dùng ngân sách để xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Trong bài này, xin được phản biện một số lập luận này của ông Phước để những cơ quan có thẩm quyền có cái nhìn đúng đắn hơn về chuyện xử lý nợ xấu bằng ngân sách.
Trước tiên, về “quan điểm”, theo cách đặt vấn đề của ông Phước, rất đồng ý với ông về quan điểm rằng phải giải quyết nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, không vì quyền lợi của một vài cổ đông, một vài ngân hàng mà là vì nền kinh tế nói chung. Và cũng đồng ý với ông rằng muốn tái cơ cấu (xử lý) nợ xấu thì không thể để Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đơn thường độc mã.
Tuy nhiên, từ quan điểm trên không thể suy ra ngay rằng muốn xử lý nợ xấu (hiệu quả) thì phải dùng ngân sách nhà nước, vì hai vấn đề này không nhất thiết phải dính dáng, quan hệ với nhau. Không thấy ông Phước trình bày về mối quan hệ này, ngoài một “tiết lộ” về con số 12,5% GDP là nguồn lực tham gia giải quyết nợ xấu trong 5 năm qua, và chi tiết rằng “cả hệ thống chính trị vào cuộc (xử lý nợ xấu)”. Những con số và chi tiết này thực ra cũng hoàn toàn không nói lên điều gì liên quan đến câu hỏi tại sao  phải dùng ngân sách để xử lý nợ xấu.
Không rõ con số 12,5% GDP nguồn lực giải quyết nợ xấu mà ông Phước nêu ra cụ thể là gồm những khoản chi tiêu nào, ai chi, cho ai và vào đâu. Tuy vậy, cứ suy từ diễn biến xử lý nợ xấu bấy lâu nay dư luận đã được biết thì nguồn lực này có thể bao gồm số tiền NHNN bỏ ra cho các ngân hàng yếu kém, 0 đồng vay dưới dạng cho vay tái cấp vốn để xử ý nợ xấu. Nhưng số tiền này của NHNN không phải là tiền từ ngân sách (mà từ tạo tiền, một nghiệp vụ thông thường của NHNN) nên không thể nói ngân sách đang được dùng để xử lý nợ xấu.
Hoặc nguồn lực trên cũng bao gồm số vốn VAMC đã bỏ ra dưới dạng trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu từ các ngân hàng. Nhưng trái phiếu VAMC cũng không phải là vốn từ ngân sách (lưu ý rằng 2.000 tỷ đồng vốn điều lệ cấp cho VAMC hoạt động vẫn chưa được dùng đến một đồng nào, theo người đứng đầu VAMC cho biết). Bởi vậy, cũng không thể nói ngân sách đang được dùng để xử lý nợ xấu.

Quan trọng hơn, dù cho nguồn lực trên có được lấy ra từ ngân sách một cách bí mật, lén lút (vì chưa bao giờ được báo cáo công khai, trước Quốc hội) để dùng vào một việc nào đó liên quan đến nợ xấu  thì, theo nguyên tắc, không phải là cái cớ để kêu gọi tiếp tục và công khai, hợp pháp hóa cách làm này, trừ khi những người đứng đằng sau những hành động bí mật này công khai đứng ra nói rõ cách làm, sự cần thiết và lợi ích mang lại của nó cho nền kinh tế nói chung.
Như vậy, về quan điểm, ở đây rõ ràng chuyện tại sao phải dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu vẫn chưa (bao giờ) được những người kêu gọi dùng ngân sách xử lý nợ xấu như ông Phước giải đáp rõ ràng, thỏa đáng. Mà một khi đã vậy thì không thể yêu cầu dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu!

Chuyển sang vấn đề “kỹ thuật”, cũng theo cách nói của ông Phước. Theo ông Phước, để xử lý nợ xấu thì cần 25 tỉ đô la Mỹ trong 5 năm tới. Con số này bao gồm 10 tỉ đô la Mỹ để xử lý số nợ mà VAMC đã mua, 15 tỉ đô la Mỹ còn lại sẽ được các ngân hàng tự thực hiện bao gồm việc bán các tài sản, trích lập dự phòng cấn nợ trừ nợ… đồng thời cần thiết lập thị trường mua bán nợ thực sự.
Các thông tin ông Phước đưa ra như ở trên không giúp ích gì trong việc thuyết phục công luận rằng cần thiết phải rót tiền thật để xử lý nợ xấu (chưa nói đến chuyện tiền thật này phải từ ngân sách). Chẳng hạn, “xử lý số nợ mà VAMC đã mua” là xử lý kiểu gì? Phải chăng là VAMC dùng số tiền 10 tỉ đô la Mỹ này để chi trả các ngân hàng thương mại đã bán nợ xấu cho mình thay vì dùng trái phiếu đặc biệt?

Nếu đúng vậy. Vì nợ xấu đang “mắc kẹt” tại VAMC, chưa biết ngày nào mới xử lý và thu hồi được bao nhiêu trong số nợ đang ôm này, nên nếu VAMC, và thực chất là Nhà nước, cứ “mạnh dạn” chi trả ngay cho các ngân hàng có nợ xấu bằng tiền thật thì có khác gì “thả gà ra đuổi”? Tại sao lại phải hào phóng với các ngân hàng một cách vô nguyên tắc như thế?
Nếu nói rằng cần phải dùng tiền thật để khơi thông những trở ngại về pháp lý và cơ sở hạ tầng (ví dụ, sự thiếu vắng thị trường mua bán nợ) đang ngăn cản VAMC xử lý nợ xấu thì còn có đôi phần có lý. Nhưng chi phí này không thể nào lên đến 10 tỉ đô la Mỹ, mà quá lắm thì cũng chỉ (được phép) là một phần nhỏ trong con số này mà thôi.

Về khoản 15 tỉ đô la Mỹ còn lại dành cho các ngân hàng tự thực hiện (việc xử lý nợ xấu), đề xuất này cũng không rõ ràng và hợp lý. Chẳng hạn, tại sao việc bán các tài sản tại các ngân hàng lại cần (ngân sách) phải rót thêm tiền vào? Nếu cho rằng doanh thu từ bán tài sản không đủ bù đắp chi phí bỏ ra để bán tài sản đó thì tốt nhất đừng tìm cách bán nữa, và ngân sách chẳng cần phải bỏ ra một đồng nào để hỗ trợ cả. Hơn nữa, nguyên tắc nào cho phép dùng ngân sách để hỗ trợ (cho vay) ngân hàng trong việc bán tài sản thế chấp?
Còn nếu nói rằng khoản tiền 15 tỉ này giúp ngân hàng trích lập dự phòng, cấn nợ, trừ nợ... thì cũng vừa vô lý, vừa vô nguyên tắc. Các ngân hàng hiện đang hoạt động hoàn toàn có thể huy động vốn từ phát hành cổ phiếu, tăng mức đóng góp của cổ đông và/hoặc dùng vốn huy động để trích lập dự phòng, thực hiện các nghĩa vụ trả nợ. Nếu cho rằng một số ngân hàng không thể phát hành cổ phiếu hay tăng mức đóng góp của cổ đông vì đã... không thể làm được nữa thì điều này chứng tỏ sức khỏe của ngân hàng rất có vấn đề và NHNN lúc này buộc phải nhảy vào can thiệp, nếu thấy cần thiết thì cho vay tái cấp vốn như với các ngân hàng 0 đồng, tức là cũng vẫn chẳng cần đến vốn từ ngân sách.

Về đề xuất phát hành trái phiếu đặc biệt để huy động vốn trong dân xử lý nợ xấu. Trái phiếu loại này muốn bán được thì phải có bảo lãnh của Chính phủ vì người mua tiềm năng không muốn phải chứng kiến cảnh “thả gà ra đuổi”. Mà như vậy thì không khác gì việc Chính phủ phát hành trái phiếu thu tiền về cho ngân sách rồi từ ngân sách rót vào các ngân hàng.
Ngoài ra, nếu phải phát hành trái phiếu đặc biệt để huy động vốn xử lý nợ xấu thì tại sao không để các ngân hàng tự phát hành trái phiếu hay tăng cường huy động tiền gửi trong dân? Nếu cho rằng các ngân hàng không làm được việc này mà cần phải có bàn tay can thiệp của nhà nước (Chính phủ bảo lãnh phát hành) thì lại quay trở lại vấn đề cần có sự can thiệp của NHNN như nói ở trên. Hơn nữa, chẳng có nguyên tắc nào cho phép Chính phủ bảo lãnh phát hành trái phiếu vì lợi ích riêng của ngân hàng, cho dù dưới chiêu bài xử lý nợ xấu vì quyền lợi chung của nền kinh tế. 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).