Thursday, 20 October 2016

Để hoán đổi thành công nợ thành cổ phần (Bài đăng trên ĐBND, 20/10/2016)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=380117

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang đưa ra lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư Quy định điều kiện, hồ sơ, trình tự và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng. Trong đó, đặc biệt đáng lưu ý là điều khoản quy định tổ chức tín dụng (TCTD) được hoán đổi nợ thành vốn góp, mua cổ phần, nhưng chỉ được thực hiện đối với nợ thuộc nhóm 5 hoặc nợ đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro.
Đã được áp dụng trên thế giới
Ý tưởng hoán đổi nợ xấu thành cổ phần của NHNN đang phải đối mặt với nhiều phản đối gay gắt từ công luận. Tuy nhiên, công bằng mà nói, việc hoán đổi nợ thành cổ phần trong doanh nghiệp con nợ không phải là mới, vì nó đã được thực hiện từ lâu trên thế giới.
Sau khi bong bóng bất động sản bục vỡ ở Nhật 2 thập kỷ trước đây, nhiều doanh nghiệp đứng trước bờ vực phá sản, các ngân hàng chủ nợ đối mặt với nợ không thu hồi được. Một trong những giải pháp được một số ngân hàng thực thi lúc đó là hoán đổi nợ thành cổ phần và cử người đại diện vào Ban Giám đốc điều hành doanh nghiệp để cùng doanh nghiệp chèo lái vượt qua khủng hoảng. Không phải tất cả các trường hợp đều thành công nhưng cũng không ít trường hợp đã đem lại kết quả với doanh nghiệp thì sống sót còn ngân hàng thì thu hồi được (một phần) nợ. 
Ở Trung Quốc, chương trình hoán đổi nợ thành cổ phần rầm rộ với quy mô lớn đã được thực hiện từ cuối những năm 90. Chính phủ nước này đã cho chuyển 3,3 nghìn tỉ Nhân dân tệ (tương đương 490 tỉ đô la Mỹ) nợ xấu tại 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất Trung Quốc cho các công ty quản lý tài sản (AMC) để các công ty này chuyển một phần nợ trong số này thành khoảng 400 tỉ Nhân dân tệ trị giá cổ phần trong các doanh nghiệp con nợ. Hạn chế chương trình hoán đổi nợ kiểu này là các AMC không nhận được cổ tức và không có quyền hành gì trong Ban Giám đốc của doanh nghiệp, AMC cũng khó bán lại cổ phần tại các doanh nghiệp này.
Hồi tháng 3 năm nay, Thủ tướng Trung Quốc tuyên bố sẽ thực hiện việc hoán đổi nợ thành cổ phần theo cơ chế thị trường. Và đến  hôm 10/10 vừa qua, chương trình hoán đổi nợ thành cổ phần này đã được công bố dù bị phê phán kịch liệt. Theo đó, Chính phủ Trung Quốc không ép buộc các ngân hàng phải thực hiện việc này. Về phía doanh nghiệp, nếu là doanh nghiệp nợ ngập đầu và không có khả năng phục hồi thì sẽ không được phép tham gia chương trình. Chỉ có những doanh nghiệp với triển vọng tốt và được xác định là đang gặp khó khăn tạm thời thì mới đạt điều kiện để tham gia chương trình.
Áp dụng ở Việt Nam
Điểm đáng ủng hộ nhất trong dự thảo của NHNN là các TCTD không bị bắt buộc phải hoán đổi nợ xấu thành cổ phần trong các doanh nghiệp con nợ. Nếu bị buộc phải làm điều này thì sẽ có một số trường hợp “dở khóc dở cười”. Ví dụ, một số doanh nghiệp con nợ thực chất là doanh nghiệp tốt nhưng vì một lý do nào đó không trả được nợ. Với những doanh nghiệp này, họ không muốn để cổ phần của mình lọt thêm vào tay ai khác, kể cả ngân hàng chủ nợ. Trong trường hợp này, ngân hàng không thể thực hiện được việc hoán đổi nợ, dù bị NHNN bắt buộc. Hoặc cũng có trường hợp ngân hàng muốn được giải thoát khỏi đống nợ xấu với doanh nghiệp con nợ bằng cách bán lại đống nợ này cho một nhà đầu tư “kền kền” nào đó với giá rẻ thì cũng không được phép bán vì phải thực hiện hoán đổi nợ thành cổ phần với doanh nghiệp như yêu cầu của NHNN.
Ngược lại, điểm thiếu sót lớn nhất của dự thảo của NHN là trong phần điều kiện để các ngân hàng được hoán đổi nợ thành cổ phần của dự thảo không hề có điều khoản nào đề cập đến doanh nghiệp con nợ như thế nào thì được phép hoán đổi nợ với ngân hàng chủ nợ. Sự thiếu vắng điều kiện này tạo điều kiện, là kẽ hở để những doanh nghiệp “xác sống” tiếp tục được ngân hàng chủ nợ “tiếp máu” nuôi dưỡng, có thể bằng những khoản vay nợ mới. Các ngân hàng có một vài lý do để sẵn lòng hoán đổi nợ và có thể tiếp tục cho vay mới các doanh nghiệp này. Ví dụ, các doanh nghiệp này có thể là doanh nghiệp “sân sau” của ông chủ ngân hàng nên việc cho phép hoán đổi này là một cái cớ hết sức phù hợp để ông chủ ngân hàng lấy tiền của ngân hàng nuôi doanh nghiệp của minh.
Hoặc cũng có thể các ngân hàng dù biết rằng triển vọng phục hồi của doanh nghiệp là mù mịt nhưng họ không muốn phải báo cáo với cổ đông, với cơ quan chủ quản một con số nợ xấu cao nên tốt nhất là đem “chôn” nợ xấu này đi theo một cách hợp pháp là hoán đổi thành cổ phần để tỷ lệ nợ xấu trên sổ sách kế toán trở nên đẹp hơn mà không nhất thiết phải qua những kênh truyền thống như bán nợ xấu cho VAMC hoặc trích lập dự phòng toàn bộ cho khoản nợ xấu. Bằng cách này, họ hy vọng có thể kiếm được lợi nhuận nhiều hơn nhờ, ví dụ, được phép đẩy tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn do tỷ lệ nợ xấu thấp hơn, bù đắp cho phần tổn thất từ khoản nợ phải thu nhưng hầu như chắc chắn là không thu được này.
Sửa đổi dự thảo
Từ phân tích trên, điều NHNN cần bổ sung trong dự thảo của minh là điều khoản quy định đối tượng doanh nghiệp nào thì được phép hoán đổi nợ với TCTD. Cụ thể, chỉ có những doanh nghiệp nào được cho là tạm thời gặp khó khăn, có khả năng phục hồi trong tương lai không xa để có thể làm ra lợi nhuận trả lại cho ngân hàng hoặc ngân hàng có thể bán được cổ phần thu hồi nợ.
Để tăng tinh minh bạch, tránh tình trạng ngân hàng muốn hoán đổi nợ nên tìm cách báo cáo phóng đại khả năng phục hồi của doanh nghiệp, dự thảo cũng cần cần có thêm điều khoản về tiêu chuẩn đánh giá sức khỏe và khả năng phục hồi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây là một điểm khó thực hiện vì rất khó đề ra những tiêu chuẩn chung cho mọi doanh nghiệp, trong mọi hoàn cảnh. Một cách làm khác là yêu cầu cácTCTD  phải thuê các công ty tư vấn độc lập chuyên nghiệp trong ngành nghề mà doanh nghiệp đang hoạt động để đánh giá. Cách này cũng sẽ có khó khăn vì Việt Nam hiện tại không có nhiều tổ chức tư vấn độc lập, uy tín, có khả năng đánh giá sức khỏe và triển vọng của doanh nghiệp, đồng thời tạo thêm phí tổn cho các bên liên quan. Bởi vậy, có lẽ dự thảo cần phải tiếp tục lấy ý kiến đóng góp của công chúng thêm ở điểm này trước khi hoàn tất và ban hành.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).