Monday, 17 October 2016

Góp ý dự thảo Đề án Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020: Một số “không nên” (Bài đăng trên TBKTSG, 17/10/2106, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/152556/Gop-y-du-thao-De-an-Ke-hoach-tai-co-cau-nen-kinh-te-giai-doan-2016-2020-Mot-so-khong-nen.html

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đang đưa ra lấy ý kiến hoàn thiện dự thảo Đề án Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 để trình Chính phủ báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa 14.

Vì dự thảo Đề án này có phạm vi khá rộng, đề cập đến nhiều vấn đề về nền kinh tế Việt Nam nên trong bài này, chúng ta tập trung việc phân tích và góp ý vào phần đề cập đến các ngành kinh tế ưu tiên của dự thảo Đề án.

Không nên tự trói mình bằng những con số vô hồn

Điều có thể góp ý đầu tiên ở đây là chuyện dự thảo đề ra mục tiêu cụ thể về tái cơ cấu các ngành kinh tế ưu tiên đến năm 2020. Theo đó, dự thảo đặt ra hai mục tiêu: (1) Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng (và/hoặc giá trị xuất khẩu) và việc làm của các ngành trọng điểm tăng nhanh hơn ít nhất 30% so với tốc độ tăng tương ứng giai đoạn 2011–2015; và (2) Xác định và hỗ trợ thực hiện trên thực tế ít nhất 400 dự án đầu tư ưu tiên của các doanh nghiệp tại các ngành ưu tiên trong giai đoạn 2016 – 2020.

Vì Việt Nam có lợi thế khác nhau với mỗi ngành kinh tế và đầu ra của mỗi ngành này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan, biến động khôn lường, không chỉ trong nước mà còn cả nước ngoài, nên dù có được ưu tiên thì cũng không có gì có thể đảm bảo rằng những ngành này sẽ phát triển mạnh trên các chỉ tiêu như giá trị gia tăng (và/hoặc giá trị xuất khẩu), và việc làm đồng đều trên 30% so với tốc độ đạt được trong 5 năm của giai đoạn trước đây, bất chấp ý chí chủ quan của những người trong cuộc.

Tương tự như vậy, con số mục tiêu 400 dự án đầu tư ưu tiên được hỗ trợ trong giai đoạn 2016-2020 rõ ràng cũng chỉ là một con số “từ trên trời rơi xuống”. Không thể cộng số học toàn bộ các dự án ưu tiên ở các ngành ưu tiên để báo cáo thành tích. Giả sử có một số ngành ưu tiên nào đó trong số các ngành kinh tế được ưu tiên có nhiều dự án hơn các ngành còn lại, đóng góp chủ yếu vào con số 400 hoặc hơn số dự án ưu tiên như mục tiêu đặt ra, trong khi các ngành ưu tiên còn lại đóng góp rất ít hoặc hầu như không có dự án nào. Lúc đó chẳng nhẽ người ta vẫn báo cáo rằng mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế đã hoàn thành (vượt mức kế hoạch)?

Ngược lại, giả sử tổng cộng các dự án ưu tiên được xác định và hỗ trợ đạt được thấp hơn con số mục tiêu 400 nhưng là những dự án quy mô lớn, chất lượng tốt, có tác động lan tỏa lớn và có nhiều ý nghĩa xã hội tích cực. Nhưng vì đã chót đặt ra mục tiêu, nên Chính phủ và các bộ, ngành dễ bị dư luận nhìn nhận là đã không hoàn thành nhiệm vụ, mà trên thực tế thì không hoàn toàn đúng như vậy.

Vì vậy, thay vì đặt ra mục tiêu tăng trưởng trên 30% và trên 400 dự án ưu tiên, dự thảo nên dùng những chỉ tiêu định tính như tăng trưởng nhanh hơn và hỗ trợ nhiều dự án ưu tiên hơn trong giai đoạn 2016-2020 so với giai đoạn 5 năm trước đó (trong từng ngành kinh tế ưu tiên). Suy cho cùng, chất lượng chứ không phải số lượng mới là điều quan trọng đối với các chiến lược hay quy hoạch.

Không nên liệt kê cụ thể các sản phẩm được ưu tiên

Trong dự thảo Đề án, các ngành, sản phẩm được ưu tiên bao gồm các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có lợi thế cạnh tranh cao, như cà phê, chè, cao su, ca cao, hạt tiêu, hạt điều, cá da trơn, lợn, tôm, lúa gạo v.v... (lưu ý đến “v.v...”).

Việc liệt kê các loại sản phẩm được ưu tiên như trên là điều không nên. Lý do là, một mặt, dự thảo muốn nhấn mạnh đến những sản phẩm cụ thể xứng đáng được ưu tiên, nhưng mặt khác, việc liệt kê như vậy vô tình bỏ sót những sản phẩm khác hiện tại và sau này đang và sẽ là thế mạnh có tính cạnh tranh cao của Việt Nam. Cũng có thể cơ quan soạn thảo biết được hạn chế của cách làm này (liệt kê sản phẩm cụ thể) nên dự thảo để ngỏ cơ hội liệt kê thêm các sản phẩm khác bằng cách sử dụng từ “v.v...”. Nhưng việc để ngỏ như vậy lại làm khó cho người thực hiện khi không biết sản phẩm nào nên, không nên được ưu tiên, ngoài những sản phẩm đã liệt kê ở đây.

Bên cạnh đó, phát triển những ngành ưu tiên không nên chỉ xuất phát từ lợi thế cạnh tranh cao (của Việt Nam so với các nước khác, trên thị trường xuất khẩu?). Có những sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu nội địa, chỉ mang tính địa phương và phục vụ thị trường trong nước như một số loại cây, con đặc sản được thị trường trong nước ưa chuộng (không nhất thiết dễ xuất khẩu và xuất khẩu được giá) thì vẫn nên được ưu tiên phát triển, chí ít thì chúng mang lại thu nhập cao và cơ hội công ăn việc làm cho địa phương và các doanh nghiệp liên quan.

Ngoài ra, ngay trong những sản phẩm được ưu tiên liệt kê bên trên, có những sản phẩm ở những thời điểm cụ thể không nhất thiết nên là sản phẩm ưu tiên, do điều kiện bất lợi của thị trường, hay xét trên ý nghĩa hiệu quả kinh tế (mà cụ thể là lúa gạo, trong điều kiện giá xuất khẩu thấp, sử dụng nhiều nước trong điều kiện thời tiết khô hạn, nhiễm mặn v.v...).

Bởi vậy, về nguyên tắc, chỉ nên xác định chung là nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản vẫn là những ngành ưu tiên do tầm quan trọng của chúng trong giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, giảm nhập siêu... Còn cụ thể người dân và nhà đầu tư cần phát triển sản phẩm nào thì sẽ thực hiện theo tín hiệu của thị trường, chứ không phải theo ý chí chủ quan của những quan chức ngồi bàn giấy, “thế thiên hành đạo” lập quy hoạch và vạch kế hoạch làm ăn cho nông dân cả vài năm sau.

Không nên bỏ qua công nghiệp năng lượng tái tạo

Trong khi tính xác đáng của việc xác định tới 13 ngành công nghiệp ưu tiên là điều cần phải xem xét thêm, thì sự thiếu vắng của ngành công nghiệp năng lượng tái tạo trong dự thảo là một điều đáng tiếc. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng tăng cao và ngành điện đang phải chật vật chạy theo nhu cầu này, với nhiều dự án nhiệt điện chạy dầu và than đang và sẽ được triển khai dẫn đến tương lai có thể nhìn trước là nạn ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng trầm trọng, Việt Nam cần phải nhanh chóng đưa thêm ra các ưu đãi, ưu tiên mới để thu hút và triển khai ngay các dự án năng lượng tái tạo nhằm thay thế và giảm tải cho ngành năng lượng từ các nhiên liệu hóa thạch không tái tạo được này.

Không nên chỉ dành riêng các ưu tiên cho các dự án/doanh nghiệp ưu tiên

Trong dự thảo Đề án có một điểm đáng chú ý và cần được đặc biệt hoan nghênh. Đó là đề xuất: “Các doanh nghiệp, trong đó nòng cốt là các doanh nghiệp tư nhân trong nước, giữ vai trò dẫn dắt và thực hiện quá trình tái cơ cấu ngành kinh tế. Tái cơ cấu nền kinh tế phải dựa trên các quyết định đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp dưới sức ép cạnh tranh của thị trường trong nước và quốc tế”.

Việc trao sứ mệnh làm nòng cốt cải cách, tái cơ cấu nền kinh tế cho các doanh nghiệp tư nhân, theo tín hiệu của thị trường, thay vì là các doanh nghiệp nhà nước và bằng các quyết định duy ý chí của các quan chức bàn giấy sẽ làm cho triển vọng tái cơ cấu nền kinh tế, và do đó triển vọng tăng trưởng và phát triển của Việt Nam trở nên sáng sủa hơn rất nhiều.

Bên cạnh đó, đáng tiếc là dự thảo dường như chỉ dành những ưu tiên như hỗ trợ về cải cách thủ tục hành chính, tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, và giảm thiểu chỉ phí kinh doanh cho những dự án được ưu tiên.

Việc các dự án được ưu tiên được tạo điều kiện tiếp cận vốn vay (ưu đãi) là điều ít nhiều vẫn có thể hiểu được và chấp nhận được, khi xét đến tính cần... ưu tiên cho các dự án được ưu tiên. Nhưng việc dành riêng cho các dự án được ưu tiên các ưu tiên về thủ tục hành chính, môi trường kinh doanh bình đẳng và giảm chi phí kinh doanh sẽ tạo ra một sự bất bình đẳng bất hợp lý mới trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Câu hỏi đặt ra là tại sao các cơ quan công quyền có thể giảm bớt thủ tục hành chính, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng và hạ chi phí kinh doanh cho các doanh nghiệp, dự án ưu tiên mà lại không thể làm thế được cho các doanh nghiệp, dự án còn lại trong nền kinh tế? Có vấn đề gì với lợi ích nhóm và động cơ vụ lợi đằng sau đó hay sao?

Nói cách khác, chừng nào mà cơ quan soạn thảo dự thảo còn thấy những vấn đề về thủ tục và chi phí hành chính vẫn còn “hành” các doanh nghiệp nói chung thì tốt nhất là không nên đưa các ưu tiên này vào trong dự thảo Đề án. Vì như vậy sẽ tạo ra những câu hỏi không dễ trả lời!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).