Monday, 31 October 2016

Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020: Làm thế nào để thực hiện? (Bài đăng trên ĐBND, 31/10/2016)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=380730

Trong tờ trình Quốc hội về Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, Chính phủ đã vạch ra cặn kẽ các mục tiêu, quan điểm, nội dung trọng tâm, nhiệm vụ, nội dung thực hiện, nguồn lực thực hiện, điều kiện thực hiện, và lộ trình thực hiện tái cơ cấu.
Tuy nhiên, chỉ đọc các mục đề lớn trên thôi cũng đã thấy sự phức tạp, rối rắm và có cả sự trùng lặp, lẫn lộn giữa các mục đề, giữa mục đích với phương tiện. Quan trọng hơn, điều thiếu vắng nhất trong Kế hoạch này là những điểm mới, mang tính đột phá, cách mạng, đúng nghĩa là một cuộc đổi mới lần thứ hai. Đồng thời Kế hoạch cũng chưa đưa ra cụ thể những cách thức làm thế nào để hiện thực hóa những mục tiêu, quan điểm, nội dung trọng tâm, nhiệm vụ, và nội dung thực hiện trên.
Ví dụ, về phần nội dung, Kế hoạch nêu ra 5 nội dung trọng tâm, trong đó có “phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân”. Để thực hiện nội dung này, trong phần về nhiệm vụ ưu tiên, Kế hoạch đặt ra nhiệm vụ: “cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân ở cảc cấp trung ương và địa phương”. Nhưng nhiệm vụ này cần được triển khai thực hiện cụ thể như thế nào thì lại không thấy Kế hoạch đề cập đến, ngoài phần lộ trình thực hiện mà Kế hoạch này nhấn mạnh phải thực hiện ngay trong giai đoạn 2017-2018.
Trong khi đó, vấn đề phát triển khu vực kinh tế tư nhân nói trên đã được đề cập đến nhiều lần trong suốt ba chục năm nay trong các văn kiện của Đảng và Chính phủ, các đề án, chiến lược, kế hoạch phát triển các loại mà thậm chí có thể còn chi tiết, cụ thể hơn. Nhưng rồi kết quả thế nào thì tự nó cũng phản ánh rõ khi mục tiêu này lại một lần nữa được đưa vào thành một trong những mục tiêu trọng tâm phấn đấu đạt được của Kế hoạch hiện tại này.
Điều quan trọng mà công luận quan tâm là ai, cần làm gì, có giải pháp đột phá, khác biệt, mới mẻ gì không, như thế nào, kết quả ra sao thì mới được coi là đạt được mục đích (của tái cơ cấu)… Tiếc là những chi tiết “đắt giá” này hoàn toàn vắng bóng trong Kế hoạch. Điều này làm cho Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế hiện tại không khắc phục được sự chung chung, đại khái theo kiểu khẩu hiệu của nhiều kế hoạch tương tự, và điều khác biệt chủ yếu giữa Kế hoạch này với những kế hoạch phát triển kinh tế trung hạn trước đây chỉ là ở cụm chữ “tái cơ cấu” mà thôi.
Tương tự như vậy là các nhiệm vụ khác. Ví dụ, yêu cầu thực hiện nghiêm Luật Ngân sách mà Kế hoạch này đặt ra cũng không phải là điểm mới, có giá trị, vì bản thân Luật Ngân sách đã có những điều khoản ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này. Bên cạnh đó, yêu cầu này còn chứa đựng điểm bất hợp lý. Cụ thể, một mặt thì nó yêu cầu thực hiện nghiêm Luật Ngân sách Nhà nước. Nhưng mặt khác, nó lại yêu cầu tiếp tục cải cách Luật Ngân sách nhà nước, thực hiện đầy đủ, nhất quán kỷ luật ngân sách. Nếu đã thấy rõ Luật Ngân sách còn chứa đựng nhiều điểm bất hợp lý, phải sửa mà lại yêu cầu thực hiện nghiêm luật này thì rõ ràng là Kế hoạch lại “làm khó” nền kinh tế khi hậu quả của những bất cập trong Luật Ngân sách tiếp tục được duy trì và bộc lộ ra.
Về yêu cầu (nhiệm vụ) kiên quyết xử lý nợ xấu, cho phá sản đối với các ngân hàng yếu kém. Những vấn đề này đã có trong các đề án chuyên ngành của ngành ngân hàng, cũng như trong các chỉ đạo của Đảng và Chính phủ. Có lẽ điểm khác biệt ở đây chỉ là có thêm từ “kiên quyết”. Dẫu vậy, để sự khác biệt này có ý nghĩa thì chí ít Kế hoạch này cần phả diễn giải thế nào, ở mức độ nào là “kiên quyết”, ai, thực hiện như thế nào...
Về yêu cầu (nhiệm vụ) hoàn thiện thể chế đầu tư công, đây cũng không phải là điều mới mẻ vì đã được đề cập đến quá nhiều trong các năm qua. Điều khác biệt duy nhất ở Kế hoạch này là yêu cầu: “Đổi mới cơ chế quản lý và phân bổ đầu tư công theo nguyên tắc cạnh tranh, trên cơ sở lĩnh vực ưu tiên đầu tư và các đề xuất dự án tốt, khả thi…” (người viết nhấn mạnh).  Nhưng từ trước đến nay có nhiều dự án được phê duyệt vì được các cơ quan liên đới đánh giá là tốt, khả thi, nhưng rốt cuộc trở thành dự án “đắp chiếu” hoặc thua lỗ triền miên. Điều này chứng tỏ mọi ý đồ, mong muốn vẫn quan trọng ở khâu thực hiện, nên việc đưa thêm yêu cầu này vào trong Kế hoạch tái cơ cấu hiện nay là vừa thừa, vừa thiếu.
Sau cùng, cũng nên dành mấy câu nói về sự lạm dụng cụm từ “tái cơ cấu”. Điều này được thể hiện rõ ở yêu cầu/nhiệm vụ “tái cơ cấu các thị trường nhân tố sản xuất quan trọng bao gồm thị trường quyền sử dụng đất, thị trường nhân lực, và thị trường khoa học công nghệ” mà Kế hoạch này đặt ra phải thực hiện ngay trong giai đoạn 2017-2018. Có lẽ không mấy người hiểu rõ thế nào là tái cơ cấu thị trường quyền sử dụng đất, thị trường nhân lực, và thị trường khoa học công nghệ. Phải chăng Kế hoạch này muốn nói đến các thay đổi cần thiết trong việc sang nhượng, mua bán quyền sử dụng đất để tạo thuận lợi cho việc tích tụ đất đai trong nông nghiệp? Về tái cơ cấu thị trường nhân lực, phải chăng Kế hoạch muốn nói đến việc giảm bớt tỷ trọng nhân lực trong khu vực kinh tế nhà nước? Về tái cơ cấu thị trường khoa học công nghệ, phải chăng ý muốn nói là tăng vai trò của khu vực tư nhân trong nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ? Nếu đúng vậy thì sao không dùng những cách diễn giải đơn giản như thế này, tránh gây hiểu lầm? Nếu không phải, vậy thì Kế hoạch này cũng phải được viết lại cho rõ ràng, dễ hiểu, vì đơn giản là để cho người đọc hiểu cũng chưa đạt được thì khó nói đến chuyện hiện thực hóa nó thành công. 

 

    

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).