Saturday, 15 October 2016

Không chịu “lên sàn”: vi phạm có hệ thống (Bài đăng trên TBKTSG, 15/10/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/152550/Khong-chiu-len-san-vi-pham-co-he-thong.html

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ mới đây ký văn bản số 1768/TTg-ĐMDN về việc chuyển nhượng vốn theo Nghị định số 91/2015/NĐ-CP, theo đó yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hội đồng thành viên các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước lập danh sách các doanh nghiệp trực thuộc đã cổ phần hóa nhưng chưa đăng ký giao dịch và niêm yết trên thị trường chứng khoán. Đồng thời, người đại diện phần vốn nhà nước phải phối hợp, đôn đốc doanh nghiệp khẩn trương hoàn tất việc đăng ký giao dịch và niêm yết trên thị trường chứng khoán theo quy định, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 1/11/2016.
Văn bản trên được đưa ra trong bối cảnh hiện vẫn còn khá nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn đã hoàn thành cổ phần hóa trên 1 năm nhưng chưa tiến hành niêm yết hoặc giao dịch trên Upcom như Sabeco, Habeco, Cienco 1, Cienco 4, Vinatex, Vietnam Airlines, Seaprodex, Tổng Công ty Phong Phú...
Cần lưu ý rằng, trước đây Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 51/2014/QĐ-TTg về Một số nội dung về thoái vốn, bán cổ phần và đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán của doanh nghiệp nhà nước. Mục 3 của quyết định này quy định rõ, kể cả với doanh nghiệp đã chính thức trở thành công ty cổ phần trước ngày quyết định này có hiệu lực thi hành (1/11/2014), đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo người đại diện phối hợp, đôn đốc doanh nghiệp hoàn tất việc thực hiện đăng ký giao dịch và niêm yết theo quy định trong thời hạn tối đa 1 năm kể từ ngày quyết định này có hiệu lực.
Như vậy, nhiều doanh nghiệp đã cổ phần hóa hiện tại đã không thực hiện niêm yết theo Quyết định 51 dù quyết định này đã có hiệu lực gần 2 năm. Hơn nữa, rõ ràng sự vi phạm quy định phải niêm yết không chỉ diễn ra ở cấp doanh nghiệp và người đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp mà còn cả ở cấp đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, tức các bộ quản lý ngành, gồm cả Bộ Tài chính và Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, và Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành. Cụ thể, các bộ, ban và UBND đã không theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc triển khai niêm yết nhiều doanh nghiệp cổ phần hóa trong thời hạn một năm kể từ ngày Quyết định 51 có hiệu lực.     
Rất tiếc là trong Quyết định 51 tuy có quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ban và UBND nhưng lại thiếu điều khoản xử lý khi các cơ quan hữu trách này không thực hiện đúng, nghiêm các quy định về thoái vốn và niêm yết của doanh nghiệp cổ phần hóa trong cùng quyết định. Nên cũng dễ hiểu các cơ quan hữu trách không có động lực phải thực hiện nghiêm chỉnh trách nhiệm của mình, dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa đến cả chục năm vẫn không bận tâm chuyện niêm yết trên sàn chứng khoán.
Cũng cần nói một cách công bằng là dường như Thủ tướng Chính phủ cũng “quên” Quyết định 51. Việc để cho nhiều doanh nghiệp cổ phần hóa không niêm yết trên sàn chứng tỏ Thủ tướng cũng không “truy” các cơ quan hữu trách tại sao lại để xảy ra tình trạng đó và/hoặc cũng đã không chỉ đạo xử lý dứt điểm tình trạng này. 
Sự “phớt lờ” Quết định 51 một cách có hệ thống như vậy có thể là bối cảnh cho việc Phó Thủ tướng ban hành Văn bản 1768 nhắc nhở nói trên. Tuy nhiên, văn bản này cũng chỉ đúng nghĩa là nhắc nhở, và điều ràng buộc trách nhiệm duy nhất dường như chỉ là yêu cầu các cơ quan hữu trách và doanh nghiệp báo cáo Thủ tướng kết quả thực hiện trước ngày 1/11/2016.
Dễ hình dung kết quả của việc báo cáo sẽ là có một số doanh nghiệp tiếp tục trì hoãn việc niêm yết trên thị trường chứng khoán với những lý do ABC rất khách quan, hợp lý như trước đây và rồi mọi chuyện lại sẽ như cũ.
Để tránh tình trạng đáng thất vọng hầu như biết trước như vậy, Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ cần phải xem xét sửa đổi Quyết định 51 hoặc ban hành một văn bản pháp luật khác quy định rõ việc xử phạt người đứng đầu các cơ quan hữu trách không hoàn thành trách nhiệm theo dõi, đôn đốc các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán trong một thời gian nhất định, giả sử là đến hết tháng 3/2017.
Tất nhiên, chắc chắn sẽ lại có những lời biện hộ, bào chữa cho việc chậm chễ niêm yết lên sàn như thời gian gấp gáp, không kịp chuẩn bị kỹ lưỡng... Nhưng thực tế cho thấy nếu không “ép”, không bị đặt dưới áp lực thì các cơ quan hữu trách và doanh nghiệp sẽ không bao giờ thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ.
Bản thân Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ cũng cần phải luôn “nhớ” đến việc niêm yết của các doanh nghiệp cổ phần hóa này bằng cách theo dõi, đôn đốc và xử lý những cơ quan chức năng nào không hoàn thành trách nhiệm của mình, tránh tình trạng văn bản pháp lý ban hành ra rồi để đó, tùy cấp dưới thực hiện thế nào, đến đâu thì thực hiện mà chẳng bị hề hấn gì. Nói cách khác, để tránh “lỗi hệ thống” lặp lại, sự nghiêm minh và tinh thần trách nhiệm cần phải được làm gương, thể hiện từ cấp cao nhất trong hệ thống.  

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).