Tuesday, 25 October 2016

Xử lý nợ xấu: Rốt cuộc có dùng ngân sách nhà nước hay không? (Bài không được báo đăng vì nhạy cảm)

Theo dự thảo kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 được Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) đưa ra hồi tháng 8 năm nay thì Bộ này đã đề xuất dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Bộ Tài chính được giao soạn thảo đề án nghiên cứu khả năng bố trí nguồn lực ngân sách nhà nước để xử lý một phần nợ xấu , dự kiến trình Quốc hội thông qua.

Đề xuất dùng ngân sách xử lý nợ xấu này đã nhận được nhiều ý kiến phản biện không đồng tình bởi nợ xấu là do ngân hàng gây ra nên không thể lấy tiền thuế của dân để xử lý nợ xấu, và bởi chưa giải thích được rõ ràng tại sao phải dùng ngân sách nhà nước để xử lý trong khi các tổ chức tín dụng (TCTD) vẫn đang trích lập dự phòng và bán nợ xấu vẫn được Công ty Quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) mua và trả bằng trái phiếu đặc biệt có thể chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Có thể vì thế nên trong kế hoạch tái cơ cấu chính thức trình Quốc hội, việc xử lý nợ xấu bằng ngân sách nhà nước đã được sửa thành “nguồn lực nhà nước nhất định” để tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu.
Tuy nhiên, “nguồn lực nhà nước nhất định” là cái gì thì lại là một điều không được cắt nghĩa rõ ràng, tiếp tục gây thắc mắc trong dư luận về chuyện có dùng ngân sách để xử lý nợ xấu hay không.
Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi một lãnh đạo cao cấp của Chính phủ gần đây lý giải rằng: “Chúng ta đừng lẫn lộn hai khái niệm ngân sách nhà nước và nguồn lực nhà nước. Thực tế là từ trước đến giờ và có lẽ sau này cũng vậy, chúng ta rất cân nhắc chuyện sử dụng ngân sách để xử lý nợ xấu và xử lý ngân hàng yếu kém”. Cứ chiểu theo lý giải này thì ít có khả năng và trường hợp ngân sách nhà nước sẽ được dùng để xử lý nợ xấu.
Nhưng mặt khác, vị này lại nói rằng: “Thực tế hiện nay chúng ta đang dùng nguồn lực nhà nước rồi, khi một tổ chức tín dụng trích lập dự phòng để xử lý nợ xấu. Tức là nếu cho phép ngân hàng trích lập 100 đồng vào chỗ này thì ngân sách đóng 25 đồng rồi, bởi vì không cho trích lập thì nhà nước thu được 25 đồng (thuế thu nhập doanh nghiệp). Rồi khi nhà nước cho VAMC phát hành trái phiếu đặc biệt thì có nghĩa là dùng ngân sách nhà nước rồi, bởi nếu cho vay thông thường thì lãi suất 7-8%, còn tái cấp vốn chỉ 3%. Cho nên đừng nghĩ chỉ dùng kỹ thuật là xử lý được nợ xấu. Lần này chúng ta khẳng định rằng có thể sử dụng nguồn lực của nhà nước lớn hơn để xử lý nợ xấu”.
Như vậy, có thể thấy trong phần giải thích trên, không những nguồn lực nhà nước với ngân sách nhà nước được dùng lẫn lộn với nhau, dường như được coi đồng nghĩa với nhau, mà có thể hiểu rằng bấy lâu nay chúng ta đã dùng ngân sách để xử lý nợ xấu rồi thì (và cứ thế) sẽ tiếp tục sử dụng ở mức độ lớn hơn để xử lý nợ xấu.
Quan trọng hơn, trong lời giải thích trên đã có sự nhầm lẫn. Cho phép trích lập dự phòng đúng là sẽ làm giảm lãi của ngân hàng, từ đó làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nộp vào ngân sách nhà nước. Nhưng không thể tính theo kiểu “đếm cua trong lỗ” như vậy được vì trích lập dự phòng nợ xấu là một bút toán kế toán bắt buộc, như với bất cứ một loại chi phí hoạt động nào khác của doanh nghiệp, và phần chênh lệch cuối cùng giữa thu và chi mới được coi là lợi nhuận và mới bị tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Ở đây không có chuyện nhà nước “tự nguyện” giảm trừ thuế cho doanh nghiệp, làm giảm thu ngân sách.
Về chuyện VAMC phát hành trái phiếu đặc biệt cho TCTD để chiết khấu (hoặc “tái cấp vốn”, theo cách dùng từ của vị này) tại NHNN với lãi suất tái chiết khấu 3%. Cho vay tái chiết khấu hay tái cấp vốn từ NHNN là một nghiệp vụ hàng ngày của NHNN và nguồn tiền cho vay là từ sự tạo tiền của NHNN (nôm na là NHNN in tiền), do đó không thể coi nguồn tiền này là từ ngân sách nhà nước hoặc ngân sách nhà nước đã chịu thiệt vì NHNN đã cho vay tái cấp vốn hay tái chiết khấu. Để dễ hiểu hơn, chỉ cần biết rằng cung tiền (tạo tiền) của NHNN (hàng năm) không bao giờ, không được phép coi là nguồn thu (tiềm năng) của ngân sách nhà nước, tuy đúng là ngân sách nhà nước đôi lúc có thể vay trực tiếp tiền tạo ra từ NHNN như khoản vay 30.000 tỷ đồng hồi năm 2015.
Từ phân tích trên, có thể khẳng định rằng hầu như chúng ta chưa bao giờ dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu. Nếu coi các khoản tiền mà NHNN bỏ ra liên quan đến xử lý nợ xấu (như mua và tái cơ cấu các ngân hàng 0 đồng, tái chiết khấu trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành, tái cấp vốn cho các ngân hàng tạm thời thiếu hụt thanh khoản vì nợ xấu lớn…) là các nguồn lực nhà nước thì đúng là nợ xấu đã được xử lý một phần bởi nguồn lực nhà nước, nhưng đó vẫn không phải là ngân sách nhà nước.
Tuy vậy, cũng cần phải thừa nhận, chấp nhận một số trường hợp ngân sách nhà nước sẽ phải được sử dụng để xử lý nợ xấu. Ví dụ, ngân sách sẽ phải chi trả để xóa các món nợ xấu tại các ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước như Vinashin, vay dưới sự bảo lãnh hay chỉ định cho vay của Chính phủ, thông qua NHNN. Đây là các khoản cho vay biến thành nợ xấu không hoàn toàn do lỗi của ngân hàng nên cần thiết thì ngân sách phải bỏ ra để trả lại cho ngân hàng.
Tóm lại, hiện tại vấn đề có dùng ngân sách để xử lý nợ xấu hay không và, nếu có, thì tại sao phải dùng, vẫn chưa được làm rõ. Thiết nghĩ, Chính phủ cần phải có một câu trả lời chính thức và đầy đủ về vấn đề này để làm yên lòng công luận.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).