Friday, 25 November 2016

Nên tuân thủ cuộc chơi (Bài đăng trên TBKTSG, 25/11/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/154201/Nen-tuan-thu-cuoc-choi.html

Việt Nam cho đến nay đã đàm phán và ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương, nhiều hiệp định trong số này đã có hiệu lực mà đáng kể nhất trong số này là TPP và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam EU.
Tuy vậy, nhận thức về tự do hóa thương mại còn nhiều lệch lạc, không chỉ trong một bộ phận người dân mà còn ngay cả trong một bộ phận giới chức.
Lệch lạc đầu tiên là tuy đã hội nhập, đã cam kết mở cửa nhiều thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước cho cạnh tranh của các nước đối tác, nhưng nhiều người vẫn cứ cố níu kéo, cản trở sự cam kết mở cửa này bằng nhiều cách, chủ yếu là dùng những hàng rào bảo hộ phi thuế quan. Một ví dụ điển hình là ngành sản xuất và kinh doanh ô tô. Các cam kết tự do hóa thương mại với ASEAN, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh kinh tế Á Âu, và sắp tới là với EU có những điều khoản về mở cửa thị trường ô tô ở Việt Nam cho ô tô nhập khẩu từ những thị trường này. Tuy vậy, hiện nay nhiều người, nhiều tổ chức vẫn đang vận động đưa vào luật ngành, nghề sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh ô tô thành ngành, nghề kinh doanh có điều kiện với mục đích không chỉ đảm bảo an toàn cho người sử dụng mà còn chủ yếu là để làm khó thêm ô tô nhập khẩu và bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước đang loay hoay với chiến lược phát triển nhưng lại vẫn đang được hưởng lợi lớn nhờ thuế nhập khẩu cao và nhiều quy định làm khó ô tô nhập khẩu.
Đương nhiên là những người và tổ chức vận động bảo hộ ngành công nghiệp ô tô nội địa có lý do thuyết phục cho việc này vì ngành ô tô là một ngành quan trọng với mọi nền kinh tế. Tuy vậy, quan trọng là một chuyện nhưng có nhất thiết phát triển bằng mọi cách và có phát triển được không lại là một chuyện khác. Thực tế cho thấy không phải nước nào cũng thành công với ngành công nghiệp ô tô, nếu như ngành này không là thế mạnh cạnh tranh của họ. Hiện tại Việt Nam cũng chẳng có thế mạnh gì có thể dẫn đến sự phát triển vững chắc của ngành công nghiệp ô tô trong nước, ngoài một lợi thế duy nhất là dân số đông, hứa hẹn một thị trường tiêu thụ có tốc độ tăng trưởng nhanh trong… tương lai!
Bù lại, khi hội nhập qua các hiệp định thương mại tự do, chúng ta được hưởng lợi từ sự mở cửa thị trường nội địa của các nước đối tác cho những ngành nghề mà Việt Nam có lợi thế, chủ yếu từ khai thác lực lượng lao động dồi dào và giá tương đối rẻ, như may mặc, da giày, thủy sản, lắp ráp v.v…, cũng như từ sự lỏng lẻo về bảo vệ môi trường. Sự đánh đổi các lợi thế này giữa Việt Nam và các nước là theo đúng lý thuyết về thương mại tự do và lẽ ra không phải là điều đáng ngạc nhiên hay thất vọng với bất cứ một ai trước và sau khi ký kết các hiệp định thương mại tự do với nước ngoài.
Vì vậy, nếu cứ còn lấn cấn giữa lợi ích với thiệt hại khi tham gia các hiệp định thương mại tự do thì tốt nhất là hãy sớm chủ động rút lại những cam kết này, như cách mà ông Trump, Tổng thống mới của Mỹ đã chủ trương như vậy với TPP cho nước Mỹ từ khi đang tranh cử. Ngược lại, nếu đã cam kết mà vẫn cứ ngấm ngầm và cả công khai tìm mọi cách để “lách luật”, lách các cam kết với nước đối tác bằng những cách thức “khôn lỏi” như nêu trên thì hoặc chúng ta sẽ bị các nước đối tác trả đũa, hoặc các cam kết này sẽ phải bị xem xét lại, vì không có quốc gia nào lại cam chịu thiệt thòi một cách quá đơn giản và vô lý như vậy. 
Một lệch lạc phổ biến khác về tự do hóa thương mại tương tự là quan niệm (dù đã hội nhập sâu rộng) phải quyết xây cho bằng được một nền kinh tế có sự “phát triển hài hòa” giữa các ngành kinh tế, chắc có nghĩa là các ngành kinh tế phải có sự phát triển tương đương nhau “một chín, một mười”, ví dụ từ ngành dệt may đến ngành tự động hóa. Rồi nữa, phải có chiến lực phát triển sao cho đảm bảo gần như “tự cung tự cấp” trong nhiều ngành như ngành thép vì nếu không thì sẽ dẫn đến nhập siêu lớn, gây bất ổn vĩ mô…
Quan niệm “phát triển hài hòa” theo diễn giải trên là một thực tế, được thể hiện ở chiến lực phát triển “quả mít”, theo đó có quá nhiều ngành được xác định là ngành ưu tiên, ngành mũi nhọn. Kể cả với một nền kinh tế đóng cửa thì chiến lược này vẫn sẽ chắc chắn thất bại bởi nguồn lực kinh tế có hạn, không thể đáp ứng yêu cầu phát triển cùng một lúc của nhiều ngành khác nhau. Điều này cũng tương tự như một gia đình nghèo đông con, nếu không dồn sức cho đứa con nào có khả năng học nhất mà cứ chia đều ra thì đứa nào rồi cũng sẽ học hành làng nhàng như đứa nào. Trong thời đại hội nhập như hiện nay thì chiến lược này càng sớm thất bại vì giờ đây còn có thêm sức ép là sự cạnh tranh từ bên ngoài lên những ngành vốn đã ốm yếu trong nước, trong khi những ngành có khả năng phát triển theo thế mạnh cạnh tranh thì lại không được đầu tư đầy đủ.
Chuyển sang quan niệm ngành nào mà nhu cầu trong nước lớn, đang nhập siêu thì phải tìm mọi cách để phát triển, như ngành thép là một ví dụ điển hình. Nhiều người cho rằng Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh so với thép nhập khẩu như có cảng nước sâu, có quặng sắt và nhiều khoáng chất cần cho sản xuất thép dồi dào, nhân công giá rẻ… Điều này ít nhiều là đúng nhưng chưa đủ. Về quặng sắt và các khoáng chất cần cho sản xuất thép, Việt Nam tuy có thể có với trữ lượng lớn nhưng điều quan trọng là điều kiện khai thác của mỏ có thuận lợi không, và chi phí khai khoáng liệu có đủ thấp để đảm bảo rằng chi phí đưa quặng đến chân công trình luyện thép sẽ thấp hơn chi phí cho quặng nhập khẩu cùng chất lượng hay không. Điều này chỉ được đảm bảo khi tối thiểu phải có một cơ sở hạ tầng và công nghệ cho khai khoáng và vận chuyển phát triển, là điều mà Việt Nam đang thiếu. Việc Thép Hòa Phát mặc dù có mỏ sắt trong nước nhưng vẫn phải nhập khẩu quặng sắt cho thấy sản xuất trong nước không nhất thiết là kinh tế nhất.
Ngoài ra, để thực sự ngành thép nội địa có sức cạnh tranh thì tất yếu phải phát triển các nhà máy thép dùng công nghệ lò cao, hiện đại đồng thời rất tốn kém. Như vậy, ngoài vấn đề là… tiền đâu, sự đi sau về đầu tư công nghệ lò cao làm các nhà máy thép ở Việt Nam khó cạnh tranh được với các nhà máy thép nước ngoài đã khấu hao máy móc thiết bị từ lâu, làm cho bài toán lợi thế trở nên mù mờ hơn. Tất nhiên Việt Nam vẫn có thể dốc sức đầu tư phát triển những thứ này, nhưng như thế thì lại vấp phải bài toán nhà nghèo đầu tư cho con học ở trên.
Nhân bàn về trữ lượng quặng sắt với chuyện tự chủ sản xuất trong nước, cũng xin đưa thêm một ví dụ là về ngành thép Ấn Độ. Nước này ước tính có tới hơn 13 tỉ tấn quặng sắt các loại, và ngành luyện thép nước này hàng năm sản xuất ra trên dưới 90 triệu tấn thép. Thế nhưng nước này hàng năm vẫn phải nhập hàng chục triệu tấn quặng sắt từ Úc, Canada, hay Nam Phi vì cung trong nước không đủ đáp ứng, với nhiều lý do từ vấn đề bảo vệ môi trường đến cơ sở hạ tầng kém phát triển hay chất lượng quặng không tốt… Đồng thời nước này cũng phải đương đầu với thép nhập khẩu giá rẻ hơn (và chất lượng tốt hơn) không chỉ từ Trung Quốc mà còn cả từ Nhật, Hàn Quốc là những nước đã có các hiệp định thương mại tự do với Ấn Độ, làm cho Ấn Độ chẳng còn mấy cớ để buộc tội họ bán phá giá.
Bởi vậy, với Việt Nam, thay vì chủ quan cho rằng ngành thép là ngành có lợi thế cạnh tranh theo tư duy đơn giản là có quặng sắt, có đầy đủ các yếu tố để phát triển nên phải đầu tư, phải bảo hộ để nó phát triển bất chấp Việt Nam đã cam kết mở cửa, để cho thép ngoại tự do cạnh tranh với thép nội, thì chúng ta nên chấp nhận cuộc chơi mang tên “hội nhập”. Nghĩa là hãy để cho các chủ thể của thị trường tự tính toán bài toán chi phí và lợi ích trong ngành thép mà không có sự trợ giúp đặc biệt của nhà nước ngoài những hỗ chung như cho các ngành nghề khác. Nhà nước không nên đưa ra những biện pháp trợ giá ngầm như hạ giá thuê đất, ưu đãi đặc biệt về thuế, phí, và bảo vệ môi trường, hay giữ giá điện thấp hơn giá bán cho các ngành khác, hoặc thấp hơn giá thành… để khuyến khích đầu tư vào ngành thép.
Và cũng tương tự như với ngành ô tô, nếu vẫn cứ tiếc rẻ và muốn phát triển ngành thép hay bất cứ ngành nào khác không/chưa có lợi thế cạnh tranh thì tốt nhất là đừng hội nhập nữa! 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).