Tuesday, 23 May 2017

Để vốn ODA không còn là “̣chùm khế ngọt" (Bài đăng trên TBKTSG, 23/5/2017, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/160177/De-von-ODA-khong-con-la-chum-khe-ngot.html

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 52 về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ đối với ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Theo đó, UBND cấp tỉnh được vay lại từ nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi khi đáp ứng các điều kiện có dự án được cấp có thẩm quyền cho phép huy động vốn vay để thực hiện đầu tư phát triển kinh tế - xã hội hoặc dự án có phần vốn góp của ngân sách địa phương theo phương thức hợp tác công tư, thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương do cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Luật Đầu tư công.

Tốt trên lý thuyết

Có thể nói rằng sự ra đời của nghị định này là một nỗ lực của Chính phủ nhằm khắc phục tình trạng coi vốn ODA, vốn vay ưu đãi Chính phủ là “chùm khế ngọt” với các địa phương, và nhiều cá nhân liên đới. Do vốn ODA và vốn vay ưu đãi Chính phủ từ trước đến nay chủ yếu được phân bổ theo kiểu xin cho, cấp phát nên địa phương nào “giỏi xin” thì sẽ được cho mà không nhất thiết phải gắn với hiệu quả kinh tế xã hội của đồng vốn được sử dụng, và cũng không nhất thiết phải gắn với trách nhiệm trả nợ đầy đủ và đúng hạn. Điều này là nguyên nhân chính dẫn đến thất thoát, lãng phí, sử dụng không hiệu quả các nguồn vốn vay này.

Từ thực tế trên, đã có một số đề xuất Chính phủ cho vay lại các nguồn vốn ưu đãi này thay vì cấp phát.

Việc cho vay lại được cho là sẽ buộc người sử dụng vốn vay - UBND các tỉnh có trách nhiệm hơn với đồng vốn mà họ đi vay về. Vì là vốn vay lại chứ không phải là được “cho không” như trước đây nên họ trở nên có trách nhiệm hơn với “tiền của người khác”, trước khi vay phải cân nhắc nguồn và khả năng trả nợ, đồng thời sẽ phải gánh chịu hậu quả khi không trả được nợ.


Lý thuyết là như vậy. Và rõ ràng là Nghị định 52 đã đi theo hướng này khi có các điều khoản quy định về điều kiện được vay lại, tỷ lệ cho vay lại, trách nhiệm trả nợ, và xử lý rủi ro (khi UBND tỉnh không trả được nợ).

Nhưng thực tế có thể vẫn... còn lỗ hổng

Nghị định 52 về bản chất vẫn là cơ chế xin cho, vẫn còn lỗ hổng, dễ bề bị lợi dụng.
Theo nghị định này, để được vay lại vốn ưu đãi, ngoài việc phải có dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, cho phép huy động vốn, và được bố trí vốn đối ứng, địa phương đó còn không được có dư nợ vượt quá hạn mức dư nợ của ngân sách địa phương, không có nợ vay lại của Chính phủ quá hạn, và nghĩa vụ trả nợ hàng năm đối với vốn vay lại ưu đãi không vượt quá 10% nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp.

Như vậy, với các địa phương đáp ứng được các điều kiện về dư nợ trong hạn mức, không có nợ quá hạn, và nghĩa vụ trả nợ hàng năm chưa vượt mức, dù hiện tại có thể là họ chưa hoặc không có (nhiều) dự án để được hưởng vốn vay lại ưu đãi thì họ sẽ “vẽ” ra cho đủ số các dự án loại này một cách không khó khăn gì, vì cơ quan “có thẩm quyền” như nêu chung chung trong Nghị định 52 hoàn toàn có thể là “người nhà” cả.

Điều quan trọng ở đây là tâm lý nếu đủ điều kiện được vay vốn ưu đãi thì chẳng tội gì không “vẽ” ra dự án để “xin” được tiền về cái đã, còn thực tế ra sao thì... tính sau, vốn là điều chẳng còn lạ lẫm gì ở Việt Nam qua hàng loạt vụ án kinh tế đình đám liên quan đến vốn Chính phủ vay nước ngoài về giao, cho các doanh nghiệp nhà nước vay lại.

Và cũng vì đã được quy định rõ ràng trong nghị định trên nên việc “xin” tiền càng trở nên đơn giản hơn so với trước đây, vì các bộ hữu trách không còn lý do gì để không phê duyệt khi mọi điều kiện để cho vay lại đều được đáp ứng đầy đủ trên giấy tờ.

Tiếp theo, Nghị định 52 chưa đề cập đến một vấn đề quan trọng là quy định chỉ một số trường hợp hữu hạn nào đó thì Chính phủ mới đứng ra đàm phán với các đối tác nước ngoài để vay vốn và cho các UBND tỉnh vay lại. Với các điều kiện để được vay lại vốn vay nước ngoài chung chung, đại trà như nêu trong nghị định thì rất có khả năng là mọi dự án của UBND tỉnh sẽ là đối tượng được hưởng nguồn vốn vay lại ưu đãi này, miễn là địa phương đó thỏa mãn được các điều kiện chung chung này.

Điều này không chỉ dẫn đến hậu quả nguồn vốn ưu đãi tiếp tục bị dàn trải, Chính phủ phải luôn chạy theo nhu cầu vay lại vốn ngày càng tăng lên của các địa phương cả nước. Trong trường hợp Chính phủ không đáp ứng nổi nhu cầu vay lại này (mà chắc chắn là vậy) thì lại dẫn đến chế độ phân phối vốn như trước đây dựa trên quan hệ xin cho, và/hoặc tỉnh nào, dự án nào “nhanh chân” và khéo “quan hệ” thì sẽ xin được vốn.

Đối với những dự án, địa phương “chậm chân” hoặc không đáp ứng đủ các điều kiện để vay lại vốn ưu đãi thì đây là một thiệt thòi, ngáng trở lớn (và trong dài hạn) nếu họ muốn phát triển, muốn vươn lên thông qua các dự án mà hoàn toàn có thể là tốt, có hiệu quả, nhưng không thực hiện được chỉ vì không tiếp cận được vốn (ưu đãi), một phần do vốn này đã bị hút về các địa phương, dự án khác.

Tiền vay mình hưởng, trả nợ là việc của người khác!

Đến đây, sẽ có nhiều người lập luận rằng chuyện địa phương “thích” vay lại vốn dù không thực sự cần thiết sẽ là khó xảy ra vì địa phương phải tính đến chuyện trả nợ, sẽ phải chịu hậu quả, trách nhiệm khi không trả được nợ (đúng hạn). Điều này như đã nói, chỉ đúng trên lý thuyết.

Khác với vay nợ tư nhân, nơi người đi vay phải thế chấp tài sản hoặc tín chấp, bảo lãnh (bằng uy tín của bản thân hay bằng tài sản và/hoặc uy tín của người khác), UBND các tỉnh vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ không cần bảo lãnh. Cá nhân vay nợ có thể “xù” nợ nhưng gánh nặng trả nợ và hậu quả sẽ còn theo họ suốt nên đôi khi việc không trả nợ chỉ là cực chẳng đã.

Trong khi đó, mang tiếng là UBND tỉnh vay nhưng đằng sau đó là một số cá nhân liên đới điều khiển và họ mới chính là những đối tượng sẽ được hưởng lợi nhiều nhất khi vay được vốn. Quan trọng hơn, các cá nhân này làm việc theo nhiệm kỳ nên với họ, cứ vay (và hưởng lợi) đi đã, còn việc có trả được nợ hay không, bao giờ trả được nợ, ai và giải quyết thế nào với những hậu quả sau này khi không trả được nợ... là việc của tập thể, của cả địa phương, hoặc ít ra thì là của những người kế nhiệm họ. Và cứ như những gì đang diễn ra hiện nay thì quá lắm những người này chỉ bị cách những chức vụ trong quá khứ có liên quan đến việc vay lại vốn ưu đãi.

Hơn nữa, xử lý cá nhân thì còn dễ, nhưng sẽ không dễ nếu xử lý cả một địa phương. Chính phủ liệu có những biện pháp xử lý, trừng phạt nghiêm khắc gì nếu một địa phương nào đó “vỡ nợ” vốn vay lại?

Wednesday, 17 May 2017

Thấy gì từ kế hoạch vay và trả nợ của Chính phủ? (Bài đăng trên TBKTSG, 17/5/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/159899/Thay-gi-tu-ke-hoach-vay-va-tra-no-cua-Chinh-phu.html

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ năm 2017, với chi tiết như nêu ở bảng dưới đây.

Theo đó, năm nay Chính phủ dự định vay 342.000 tỉ đồng, trong đó có 243.000 tỉ là vay các nguồn trong nước, còn lại 99.000 tỉ là từ nguồn ODA và vay ưu đãi nước ngoài.
Về kế hoạch trả nợ, năm nay Chính phủ dự định trả 260.000 tỉ đồng nợ, trong đó 243.000 tỉ đồng là trả nợ trực tiếp của Chính phủ, 17.000 tỉ đồng là nợ của các dự án cho vay lại.

Điều đầu tiên có thể nói được về những con số “khô khan” và tối giản nói trên là về độ lớn của chúng. Nếu so với quy mô GDP theo giá thực tế của Việt Nam thì số nợ Chính phủ dự định trả trong năm nay tương đương khoảng 5-6% (năm 2015, GDP sơ bộ theo giá thực tế là 4,2 triệu tỉ đồng; chưa có số liệu cho năm 2016). Điều này có nghĩa là quy mô trả nợ của Chính phủ năm nay và trong mấy năm qua (gần) tương đương với giá trị thặng dư toàn bộ nền kinh tế tạo ra trong năm. Hay nói nôm na là làm ra chỉ đủ để trả nợ, không có mấy tích lũy. Hàm ý này cũng được minh chứng thêm bằng việc Chính phủ phải vay để đảo nợ liên tục từ nhiều năm qua. Việc dùng nợ để “nuôi” nợ này là hệ quả của việc vay nợ tiếp tục tăng lên trong khi khả năng trả nợ ngày càng suy giảm.

Thứ hai, nếu chỉ nhìn vào con số vay nợ của năm 2017 là 342.000 tỉ đồng so với con số vay nợ 452.000 tỉ đồng của năm trước, người ta có thể nói rằng tình trạng vay nợ năm nay đã có sự cải thiện đang kể khi quy mô vay nợ giảm mạnh. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng con số 342.000 tỉ nói trên chưa/không bao gồm khoản vốn huy động bằng trái phiếu dành cho đầu tư phát triển, là khoản mục hàng năm trong kế hoạch vay nợ các năm trước đều có, đều được công bố, nhưng không hiểu vì lý do gì không được công bố cho năm nay. Giả sử khoản mục này năm nay bằng năm ngoái, tức là 60.000 tỉ đồng, là con số thấp nhất trong mấy năm gần đây, thì tổng giá trị vay nợ cần thiết sẽ vọt lên 402.000 tỉ đồng.


Con số 402.000 tỉ đồng này vẫn là điều đáng mừng, ở cái nghĩa là quy mô vay nợ của Chính phủ sẽ giảm đáng kể trong năm nay so với năm trước (giảm 50.000 tỉ đồng). Nhưng điều làm nó kém lạc quan hơn chính là ở góc độ đại bộ phận vốn Chính phủ đi vay về vẫn là để dùng cho trả nợ, phần vốn còn lại dành cho đầu tư phát triển vẫn “teo tóp”, giữ nguyên ở mức khiêm tốn như vậy (tỷ trọng vốn vay dành cho đầu tư phát triển năm 2016 là 13,2%, dự kiến năm nay tăng một chút - lên 14,9%, nếu Chính phủ tiếp tục dành khoản tạm tính 60.000 tỉ đồng nói trên cho đầu tư phát triển). Cứ như vậy thì khả năng “bóc ngắn cắn dài” sẽ còn tiếp tục vì năng lực sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế vẫn sẽ tiếp tục tăng trưởng chậm, làm giới hạn khả năng nhanh chóng trả nợ, giảm nợ của Chính phủ.

Thứ ba, cũng là một điều đáng mừng khác, khi số vốn vay dùng để bù đắp bội chi năm nay là 172.000 tỉ đồng, giảm gần một phần ba (giảm 82.000 tỉ đồng) so với năm 2016. Điều này, thoạt nhìn, có thể dẫn đến kết luận dễ dãi rằng bội chi ngân sách đã giảm mạnh nên
Chính phủ chỉ cần vay ít hơn để trang trải cho thâm hụt ngân sách.

Nhưng nếu nhìn vào khoản mục trả nợ gốc (hoặc “đảo nợ”, theo cách dùng của Chính phủ trong một số năm) thì tình hình cũng lại trở nên kém lạc quan hơn.

Cụ thể, năm nay Chính phủ dự định chi tới 144.000 tỉ đồng để đảo nợ, trong khi con số này năm trước mới là 95.000 tỉ đồng. Thực ra, bội chi ngân sách cần phải bao hàm cả khoản mục đảo nợ vì tiền dùng cho mục đích này rốt cuộc cũng là tiền lấy từ ngân sách nhà nước chứ chẳng phải là tiền ai đó hào phóng chi trả giúp cho Chính phủ. Do đó, nếu gộp hai khoản này lại thì nhu cầu vay để bù đắp bội chi ngân sách và đảo nợ năm 2017 là 316.000 tỉ đồng, chỉ giảm 33.000 tỉ đồng so với con số này của năm 2016 (349.000 tỉ đồng), tức chỉ bằng non nửa con số 82.000 tỉ đồng nêu ở đoạn trên.
Nói cách khác, nhu cầu vay để bổ sung cho ngân sách sẽ không giảm mạnh trong năm nay như điều đã cho thấy từ sự sụt giảm mạnh của khoản mục “bù đắp bội chi” trong kế hoạch vay nợ của Chính phủ.

Thứ tư, về kế hoạch trả nợ 260.000 tỉ đồng của Chính phủ trong năm nay, nếu so với con số 273.000 tỉ đồng của năm trước thì rõ ràng đây cũng là một sự cải thiện, vì nó cho thấy gánh nặng nợ nần đã giảm bớt trong năm nay. Tuy nhiên, cũng không rõ vì lý do gì mà kế hoạch trả nợ năm nay lại không có khoản mục đảo nợ như của năm trước. Điều này càng trở nên khó hiểu hơn vì rõ ràng là trong kế hoạch sử dụng vốn vay của Chính phủ năm nay có khoản mục dành cho đảo nợ (144.000 tỉ đồng) như đã phân tích ở trên.

Để thận trọng hơn, ta hãy chú ý đến sự tăng vọt của khoản mục trả nợ trực tiếp của Chính phủ, 243.000 tỉ đồng trong năm 2017 so với chỉ 154.000 tỉ đồng trong năm 2016. Không loại trừ khả năng là năm nay Chính phủ lại tính gộp khoản mục đảo nợ vào khoản mục trả nợ trực tiếp của Chính phủ. Nếu đúng vậy thì ta có thể tạm thời “thở phào” vì điều này cũng vẫn cho thấy rằng quả thật là gánh nặng nợ nần cũng như việc phải vay để đảo nợ đã được cải thiện phần nào trong năm nay.

Nhưng nếu không phải vậy thì đây không những là một thiếu sót khó hiểu, khó chấp nhận, mà còn cho thấy những dấu hiệu nguy hiểm khi nghĩa vụ nợ trực tiếp của Chính phủ tăng vọt trong năm nay so với năm 2016 (tăng tới 89.000 tỉ đồng).

Cuối cùng, có một tín hiệu phấn khởi hơn sau những gì đã thấy từ những con số nêu trong phân tích ở trên. Đó là con số kế hoạch đi vay để cho vay lại (26.000 tỉ đồng trong năm nay so với 43.000 tỉ đồng trong năm 2016), cũng như con số kế hoạch trả nợ cho các dự án cho vay lại (17.000 tỉ đồng trong năm 2017 so với 24.000 tỉ đồng trong năm 2016). Những con số này cho thấy Chính phủ đã thật sự trở nên thận trọng, e dè hơn với việc vay để cho vay lại, vốn là một trong những nguồn gốc dẫn đến gánh nặng nợ công ngày càng phình to khó kiểm soát.

Tóm lại, về tổng thể, kế hoạch vay và trả nợ của Chính phủ năm 2017 cho thấy một số tín hiệu lạc quan hơn về chuyện nợ nần của Chính phủ. Tuy nhiên, do có một số khác biệt trong nội dung thông tin công bố, không biết là bởi do vô tình hay cố ý, nên bức tranh về ngân sách nói chung, về vay nợ và khả năng trả nợ của Chính phủ nói riêng vẫn còn nhiều góc khuất cần làm sáng tỏ thêm trước khi người ta có thể tạm thời an tâm rằng tình hình đang tiến triển theo hướng lành mạnh hơn.

Tuesday, 16 May 2017

Hỗ trợ khởi nghiệp: Tấm huy chương hai mặt (Bài đăng trên Doanh nhân Sài gòn, 16/5/2017)

http://www.doanhnhansaigon.vn/khoi-nghiep/ho-tro-khoi-nghiep-tam-huy-chuong-hai-mat/1104382/

Mấy năm gần đây phong trào khởi nghiệp ở Việt Nam đã nhận được sự quan tâm lớn của Nhà nước và cộng đồng. Điều này một phần là bởi nhận thức rằng khởi nghiệp là một kênh hữu hiệu để làm giàu cho cá nhân, cộng đồng và cả quốc gia, thoát khỏi tình trạng trì trệ trong tăng trưởng kinh tế và lối mòn trong tư duy ỉ lại và thụ động, đặc biệt của tầng lớp trẻ.

Từ phía Nhà nước, nhiều sáng kiến với chiến lược quốc gia về khởi nghiệp đã được đề xuất và khởi động. Gần đây có đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025" với hàng loạt biện pháp cụ thể nhằm hỗ trợ cộng đồng khởi nghiệp như xây dựng khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo, phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, khuyến khích sử dụng quỹ của các cơ quan để góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp (DN) khởi nghiệp, ưu đãi về thuế.

Rõ ràng, sự quan tâm, hỗ trợ của Nhà nước có vai trò quan trọng đối với dự án khởi nghiệp của các cá nhân và tập thể mà ban đầu thường không có gì đáng kể về tài vật, chỉ có ý tưởng sáng tạo và tinh thần quyết tâm cộng với sự tự tin sẽ thành công. Tuy nhiên, hỗ trợ cho ai, hỗ trợ như thế nào và bao nhiêu thì phù hợp là bài toán khó với Việt Nam. Cái khó đầu tiên là tài chính.

Một số nước thường được viện dẫn như là cái nôi, môi trường lý tưởng cho khởi nghiệp nhưng tiếc rằng đó lại thường là các nước và vùng lãnh thổ đã phát triển, giàu có như các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Israel, Singapore, Đài Loan và Hồng Kông.

Thế nên, với tiềm lực kinh tế còn rất hạn chế của Việt Nam thì việc "noi gương" những nước này để thúc đẩy phong trào khởi nghiệp trên diện rộng là điều khó khả thi. Và nếu có thực hiện được trên quy mô lớn thì chắc chắn sẽ xảy ra tình trạng các nguồn lực vốn rất nhỏ bé, hữu hạn lại bị dàn trải quá mức, dẫn đến mỗi DN startup nếu may mắn sẽ chỉ nhận được một phần nhỏ so với nhu cầu tài vật cần thiết để đưa startup đến thành công.

Tiếp đến, sự hỗ trợ tài vật của Nhà nước cho các startup nhiều khi lại đưa đến những kết quả không mong muốn. Đó là sự ra đời và tồn tại của những DN theo kiểu "xác sống", hoạt động thoi thóp, tạo ra rất ít hiệu quả kinh tế như công ăn việc làm, thu nhập và tăng trưởng.
Hãy lấy ví dụ về Singapore, một nước được coi là có môi trường lý tưởng để khởi nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ với sự hậu thuẫn của chính phủ nhằm cạnh tranh với vị thế của Thung lũng Silicon, Mỹ.


Cũng cần biết thêm là Singapore, học hỏi mô hình của Israel, cũng hỗ trợ tới 85% vốn cần thiết cho DN startup (15% còn lại dành cho các nhà đầu tư tư nhân), nhưng điều khác biệt là Singapore không đưa ra các điều kiện khó khăn hơn, trong đó có mức độ công nghệ mà DN sẽ phát triển, để được chính phủ cấp vốn như ở Israel.

Theo một khảo sát hồi năm 2016 của Trung tâm Khởi nghiệp thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS), tuy có đến hơn phân nửa số DN startup ở nước này sống sót sau 5 năm kể từ ngày thành lập, so với tỷ lệ chỉ 42% ở Anh, nhưng rất nhiều trong số DN tồn tại này hoạt động cầm chừng, không tạo ra mấy công ăn việc làm và doanh thu.

Điều này xảy ra bất chấp thực tế Singapore là một trong những nơi dễ dàng để khởi nghiệp nhất trên thế giới, cũng như nước này được hưởng lợi từ một lực lượng lao động có trình độ cao và sự tiếp cận các thị trường rộng lớn và tăng trưởng nhanh ở Đông Nam Á.

Cụ thể hơn, kết quả khảo sát nói trên chỉ ra rằng, hơn một nửa trong số 530 DN trong lĩnh
vực công nghệ tính trung bình có ít hơn 5 lao động và doanh thu trung bình hằng năm ở mức 200.000SGD (khoảng 3,2 tỷ đồng). Chỉ có 8% trong số DN tham gia khảo sát thuộc dạng tăng trưởng nhanh với doanh thu trung bình hằng năm đạt 4 triệu SGD (64 tỷ đồng).

Tệ hơn, ngay cả trong số DN thành công và tăng trưởng nhanh này có đến trên 2/3 DN chỉ đơn giản sao chép ý tưởng kinh doanh đã thành công ở đâu đó, chứ không phải thành công dựa trên sáng tạo riêng của mình. Cuộc khảo sát cũng cho thấy có rất ít DN đang hoạt động trong lĩnh vực "công nghệ sâu" và có tính cách mạng như trí tuệ nhân tạo và khả năng học hỏi của máy móc.

Do vậy, bài học rút ra từ trường hợp của Singapore và rộng hơn là của Israel - mô hình mà Singapore học hỏi không đến nơi đến chốn - có thể áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là hỗ trợ cần có tính chọn lọc, trọng điểm, với những yêu cầu khắt khe về lĩnh vực và chất lượng hoạt động, cũng như khả năng tăng trưởng của DN startup để sao cho nguồn lực có hạn của Nhà nước được dồn cho những DN có khả năng tăng trưởng nhất trong các lĩnh vực sáng tạo, có chiều sâu về công nghệ.

Nếu không, sự hỗ trợ của Nhà nước tiếp tục bị dàn trải, lãng phí cho những DN mang tiếng là startup nhưng chỉ là những DN thông thường, không có sức lan tỏa sâu rộng cả về công nghệ lẫn kinh tế.

Friday, 5 May 2017

BHXH bắt buộc với lao động nước ngoài: yếu cơ sở, thiếu ngoại trừ (Bài đăng trên TBKTSG, 6/5/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/159677/BHXH-bat-buoc-voi-lao-dong-nuoc-ngoai-yeu-co-so-thieu-ngoai-tru.html

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) đang lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo nghị định về đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có hợp đồng từ một tháng trở lên. Chế độ bảo hiểm cơ bản gồm ốm đau, thai sản, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất.

Dự thảo nghị định này chưa đưa ra được lý do thỏa đáng để giải thích tính cần thiết phải áp dụng BHXH bắt buộc với lao động nước ngoài tại Việt Nam. Đồng thời, nếu cứ áp dụng như dự thảo mà không có thêm các ngoại trừ thì có thể sẽ tạo ra những trói buộc và khó khăn cho cả người lao động nước ngoài và phía sử dụng lao động một cách không cần thiết.
 
Cơ sở đề xuất thiếu thuyết phục
 
Tờ trình dự thảo nghị định đưa ra ba nguyên tắc định hướng làm cơ sở đề xuất nội dung BHXH bắt buộc với lao động nước ngoài, gồm “bình đẳng trong đối xử”, “có đi có lại”, và “cộng dồn”.

Về nguyên tắc “bình đẳng trong đối xử”, theo tờ trình thì nguyên tắc này được nêu ra bởi Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nhằm đảm bảo bình đẳng giữa lao động trong nước và lao động nước ngoài ở cả chín chế độ BHXH. Theo đó, việc áp dụng chính sách BHXH của một quốc gia đối với lao động của mình như thế nào thì được khuyến nghị áp dụng đối với lao động nước ngoài tương tự như vậy. Như thế có thể hiểu là Việt Nam đã áp dụng BHXH bắt buộc với lao động Việt Nam thì cũng cần phải áp dụng bình đẳng như vậy với lao động nước ngoài.
 
Nhưng cần nói ngay rằng không phải nước nào trên thế giới cũng áp dụng BHXH bắt buộc với lao động nước ngoài. Ví dụ, ở Singapore, việc đóng BHXH chỉ được áp dụng với công dân Singapore hoặc thường trú nhân Singapore (người nước ngoài có “thẻ xanh”, được phép cư trú dài hạn tại Singapore). Những lao động nước ngoài khác (lao động nhập cư các loại, trừ người có “thẻ xanh”), và nhân viên biệt phái nước ngoài (do công ty nước ngoài cử đến Singapore làm việc tạm thời) thì không phải đóng BHXH. Công ty sử dụng họ cũng không phải cùng tham gia đóng BHXH cho họ. Không những thế, họ và công ty của họ cũng không được phép đóng BHXH tại Singapore dù tự nguyện và mong muốn. Ngay cả công dân và thường trú nhân nếu có thu nhập (kể cả trong trường hợp tự doanh) thấp hơn một ngưỡng tối thiểu nào đó do luật quy định thì cũng không phải đóng BHXH.
   
 
Nói cách khác, nguyên tắc “bình đẳng trong đối xử” của ILO, nếu có, chỉ mang tính khuyến nghị, chứ không mang tính ràng buộc (đa phương) và không được áp dụng ở mọi quốc gia trên thế giới. Do đó, Việt Nam cũng không nhất thiết phải áp dụng BHXH bắt buộc với lao động nước ngoài, dù là lao động có hợp đồng từ một tháng trở lên.

Nguyên tắc “có đi có lại”, theo tờ trình dự thảo, thể hiện một quốc gia áp dụng chính sách BHXH đối với công dân nước ngoài như thế nào thì công dân nước đó ở nước ngoài cũng sẽ được áp dụng chính sách BHXH tương tự.

Liên quan đến nguyên tắc này, cần biết thêm rằng Singapore cũng không có các thỏa thuận về BHXH với bất cứ nước nào khác trên thế giới. Trong khi đó, như trên đã nói, trong số lao động nước ngoài ở Singapore, gồm đông đảo lao động người Việt, rất nhiều người không có “thẻ xanh” nên không “được” đóng BHXH bắt buộc tại Singapore.

Điều này có nghĩa là trên thực tế có thể có nhiều nước không áp dụng BHXH bắt buộc với lao động Việt Nam như Singapore, nên nếu Việt Nam vận dụng nguyên tắc “có đi có lại” để áp dụng BHXH bắt buộc “đồng bộ” với mọi lao động nước ngoài, kể cả những người đến từ những nước không áp dụng BHXH bắt buộc với lao động Việt Nam, thì sự vận dụng này là… nhầm chỗ!

Những nước này không áp dụng BHXH bắt buộc với mọi lao động Việt Nam thì không có lý gì Việt Nam phải/nên áp dụng BHXH bắt buộc với lao động của họ. Và cũng bởi vậy, nếu cứ muốn áp dụng BHXH bắt buộc với lao động nước ngoài thì Việt Nam cũng nên/phải có điều khoản loại trừ áp dụng với lao động đến từ một số nước không có quy định tương tự với lao động Việt Nam để cho đúng với tinh thần của nguyên tắc “có đi có lại” này.
 
Với nguyên tắc “cộng dồn”, theo tờ trình, là cộng dồn về thời gian tham gia BHXH. Theo đó, thời gian tham gia BHXH ở cả nước nơi người lao động đi và nước nơi người lao động đến làm việc đều được tính khi xem xét điều kiện về tổng thời gian tham gia để hưởng chế độ.
Tuy nhiên, thật khó tưởng tượng có một nước nào đó lại chấp nhận tính số năm mà công dân của họ lao động và nộp BHXH ở Việt Nam vào tổng số năm nộp BHXH tại nước này.
Ngược lại, trong dự thảo nghị định dường như cũng không có một điều khoản nào quy định về chuyện cộng dồn số năm nộp BHXH ở bản quốc của lao động nước ngoài vào tổng số năm nộp BHXH tại Việt Nam để làm cơ sở tính chế độ hưởng BHXH tại Việt Nam.
 
Dù có muốn và để thực hiện được nguyên tắc này thì chí ít Việt Nam cũng phải đàm phán và thỏa thuận với các nước khác về tinh thần và cách thức thực hiện, trước khi ban hành quy định áp dụng BHXH bắt buộc với lao động nước ngoài.
 
Tóm lại, cả ba nguyên tắc định hướng mà tờ trình dự thảo nghị định này viện ra vẫn chưa giải thích thỏa đáng cho sự cần thiết phải áp dụng BHXH bắt buộc với lao động nước ngoài tại Việt Nam.
 
Gây thêm khó khăn
 
Dự thảo nghị định quy định lao động nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ một tháng trở lên thì thuộc diện áp dụng BHXH bắt buộc (khi có hoặc giấy phép lao động, hoặc chứng chỉ hành nghề, hoặc giấy phép hành nghề).

Tuy nhiên, việc áp dụng “đồng bộ” cho mọi đối tượng như trên mà không có những điều khoản loại trừ sẽ gây ra những khó khăn lớn cho nhiều lao động nước ngoài và người sử dụng họ ở Việt Nam.
 
Ví dụ, với những nước như Mỹ, luật pháp họ quy định trong nhiều trường hợp các công dân Mỹ dù làm việc ở nước ngoài thì vẫn phải đóng BHXH cho Mỹ. Nếu có Thỏa thuận toàn bộ (Total Agreement) giữa Mỹ với nước sở tại mà công dân Mỹ đang làm việc thì công dân Mỹ chỉ phải đóng BHXH cho một trong hai nước. Nhưng do giữa Mỹ và Việt Nam không có một thỏa thuận loại này nên người lao động từ Mỹ và doanh nghiệp sử dụng họ sẽ phải trả cả hai loại BHXH cùng lúc.
 
Vì gánh nặng BHXH bắt buộc này nhiều khi là quá lớn nên doanh nghiệp sẽ không tuyển dụng lao động đến từ Mỹ hay những quốc gia có quy định tương tự nữa, và điều này đồng nghĩa với môi trường kinh doanh ở Việt Nam trở nên xấu hơn, cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp thu hẹp (vì không phải lúc nào cũng tìm được người lao động thay thế phù hợp).
Cũng trên ý nghĩa này, nếu muốn áp dụng BHXH bắt buộc với lao động nước ngoài thì Việt Nam trước tiên cần ký kết thỏa thuận tránh nộp BHXH hai lần, và áp dụng điều khoản loại trừ với những trường hợp không có thỏa thuận song phương này.

Cần nhanh chóng thực hiện đấu giá biển số xe (Bài đăng trên TBKTSG, 28/4/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/159430/Can-nhanh-chong-thuc-hien-dau-gia-bien-so-xe.html

Gần đây Bộ Công an đã họp với đại diện các bộ Tài chính, Tư pháp để lấy ý kiến, xây dựng dự thảo đề án đấu giá biển số xe. Theo Bộ Công an, việc đấu giá quyền sử dụng biển số xe nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân, đồng thời tăng tính minh bạch, phòng ngừa tiêu cực trong lĩnh vực này. Trước mắt khi chưa có phương án tối ưu để đấu giá biển số xe phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, Bộ sẽ kiến nghị Chính phủ đưa ra lộ trình để thí điểm.

Đấu giá biển số xe là cần thiết, cần làm ngay

Đầu năm ngoái, trong một phiên đấu giá công khai tại Singapore, biển số xe cổ “S 32 H” (được cấp khoảng 70 năm trước) đã được bán với giá 335.000 đô la Singapore (khoảng 5,4 tỉ đồng).
Ảnh chụp một góc trang mạng của Land Transport Authority (Bộ Giao thông) Singapore liệt kê các biển số xe sẽ được đưa ra đấu giá (https://www.onemotoring.com.sg/content/onemotoring/en/lta_e_services/online_enquiries/available_numbers.html)
Tại Pakistan, đầu năm nay, biển số “1” được bán với giá kỷ lục ở nước này là 710.000 rupee Pakistan (khoảng 154 triệu đồng). Mới tháng trước, ở Ấn Độ, biển số “KL 01 CB 1” được chốt ở mức 1,8 triệu rupee Ấn Độ (khoảng 630 triệu đồng) trong một phiên đấu giá. Tuy vậy, những con số “khủng” này chưa thấm vào đâu so với cái giá chốt trong phiên đấu giá cho biển số “1” là 18 triệu AED (khoảng 111 tỉ đồng) tại các Tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất hồi giữa năm ngoái.

Nhìn chung, biển số xe càng hiếm, càng “độc”, càng đẹp thì càng được săn lùng và được bán với giá cao, nhiều lúc đến mức không thể tin nổi như nêu ở trên. Nhưng điều này là hoàn toàn hợp lý nếu nhìn dưới góc độ cung cầu trong kinh tế học cũng như từ góc độ tâm lý.
 
Ví dụ, tại Singapore, nơi giá ô tô cao ngất ngưởng vì thuế và phí, người dân không chỉ nhìn vào bản thân cái ô tô mà họ còn nhìn vào biển số xe. Với những người thuộc giới siêu giàu thì những chiếc “siêu xe” giá lên đến hàng triệu đô la Mỹ không thể mang biển số bình thường. Họ cần một biển số đẹp, độc đáo để thể hiện đẳng cấp của họ. Còn với những người khác, có thể họ cần một biển số với các con số “may mắn” để thay đổi vận mệnh.
 
Trong bối cảnh cung nhỏ hơn cầu, hiển nhiên việc Chính phủ nên làm, hoặc phải làm, là bán biển số xe cho những người có khả năng mua với giá cao nhất, chứ không phải là cấp, hoặc phân phối biển số xe, dù là theo kiểu lựa chọn ngẫu nhiên công khai, và càng không phải là kiểu lựa chọn ngẫu nhiên mang tiếng là công khai nhưng được tiến hành sau cánh cửa đóng im ỉm tại cơ quan có thẩm quyền. Cách thức tốt và duy nhất để bán được với giá cao nhất là đấu giá công khai.
 
Số tiền thu về qua bán đấu giá biển số sẽ là một khoản thu đáng kể bổ sung vào ngân sách nhà nước trung ương và địa phương. Càng trì hoãn việc đấu giá biển số xe thì ngân sách càng bị thiệt hại, đồng nghĩa với việc tiền sẽ tiếp tục chảy vào những cái túi riêng của những người có quyền và trục lợi. Lưu ý là số thu này cần phải được coi là tiền ngân sách và được sử dụng cho các mục tiêu chi từ ngân sách, chứ không phải là khoản tiền “bắt được” nên có thể phung phí cho những mục đích khoác áo “từ thiện” nhưng khó bề quản lý, theo dõi vì không phải trải qua quy trình xét duyệt chặt chẽ, dễ gây phung phí, thất thoát và tham nhũng.
 
Trở ngại
 
Có thể nói rằng về mặt kỹ thuật thực hiện, việc đấu giá biển số xe hầu như sẽ không vướng phải khó khăn gì để phải làm thí điểm ở một địa phương, theo một lộ trình nào đó, vì chuyện này đã rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nên Việt Nam hoàn toàn có thể tham khảo cách làm của họ để áp dụng đồng bộ ở Việt Nam trong thời gian sớm nhất. Hơn nữa, một số tỉnh thành như Hải Phòng, Bình Thuận và Nghệ An đã từng tiến hành đấu giá thành công biển số xe nên chuyện đấu giá này cũng không còn lạ lẫm gì ở Việt Nam nữa.
 
Trở ngại còn lại cho việc thực hiện đấu giá biển số xe ở Việt Nam, nếu có, chỉ là sự thiếu vắng cơ sở pháp lý để thực hiện. Hiện tại, biển số xe không thuộc danh mục tài sản đấu giá như trong quy định của Luật Đấu giá tài sản. Đồng thời, nếu thực hiện đấu giá (tức là mua bán) biển số xe thì biển số xe sẽ trở thành tài sản cá nhân nên chủ sở hữu có thể cho, tặng, bán cho người khác. Nhưng hiện nay việc mua, bán biển số xe bị cấm theo Luật Giao thông đường bộ.

Những vướng mắc trên thực ra có thể gỡ bằng việc bổ sung, điều chỉnh luật và cũng sẽ không tốn thời gian và công sức cho việc này nếu mọi bên liên quan đều “thông”. Về vấn đề này, cũng nên tham khảo cách làm của các nước. 
 
Ví dụ, ở Singapore, chủ sở hữu xe được quyền giữ biển số xe này chừng nào người này trả đủ phí và hoàn thành các giấy tờ cần thiết, và biển này được đăng ký cho một chiếc xe cụ thể nào đó. Trong trường hợp của biển số cổ “S 32 H” nói trên, biển số này hiện đang được gắn cho một chiếc xe hiệu Mercedes C180. Luật Singapore cũng quy định biển số xe mua được qua đấu giá không được chuyển nhượng cho người khác. Nhưng việc chuyển nhượng này có thể thực hiện một cách gián tiếp, trước tiên bằng cách chuyển đăng ký biển số này cho một chiếc xe cũ, hỏng, rẻ tiền nào đó. Sau đó, người chủ của biển số xe này (và chiếc xe cũ gắn biển này) sẽ thực hiện chuyển nhượng (bán) chiếc xe cũ này với biển số gắn trên nó cho người chủ mới, với một số chi phí trả cho Chính phủ gắn kèm với quá trình chuyển nhượng này.
 
Như vậy, nếu áp dụng cách làm như của Singapore hiện nay thì hoàn toàn có xử lý thỏa đáng được những câu hỏi về pháp lý hiện đang được thảo luận ở Việt Nam, ví dụ như liệu biển số xe có phải là tài sản không, có được cho, tặng, bán không, và làm thế nào để chuyển nhượng được.

Saturday, 29 April 2017

Biến động lạ của tỉ giá? (Bài đăng trên CafeF, 30/4/2017)

http://cafef.vn/bien-dong-la-cua-ti-gia-20170430101456095.chn

Tỉ giá được áp dụng tại các ngân hàng thương mại đứng ở mức 22.739 đồng/USD ngày 29/4. So với ngày 31/12/2016, tỉ giá này chỉ tăng 0,1%.

Nếu so rộng ra với các bản tệ khác trong khu vực và thế giới được nêu ở bảng dưới đây, có thể thấy, trừ tỉ giá của đồng PHP của Philippines, tỉ giá tiền đồng của Việt Nam (VND) ít biến động nhất, nói cách khác là ổn định nhất trong số các đồng bản tệ này.

Điều gì đã góp phần tạo nên sự ổn định này?

Trước hết, trái ngược với những giai đoạn bất ổn lớn trước đây, sự ổn định của tỉ giá VND/USD trong thời gian qua rõ ràng là nhờ vào một yếu tố thuận lợi khách quan mang tính quyết định. Đó là sự suy yếu đáng kể của USD so với các bản tệ khác, cũng tức là các bản tệ khác lên giá đáng kể so với USD, như bảng dưới đây cho thấy. Sự đảo chiều và lên giá của các bản tệ khác so với USD làm cho việc “neo” VND vào USD của NHNN trở nên dễ dàng hơn nhiều, vì NHNN không còn phải vất vả chống đỡ trước áp lực phá giá VND nhằm một mặt duy trì tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam, mặt khác bảo vệ thị trường nội địa trước sự tăng vọt của nhập khẩu từ các nước có bản tệ suy yếu so với USD (và tức là so với VND) như trước đây.

Tuy nhiên, sự việc không chỉ có vậy. Một động thái rất đáng chú ý từ NHNN là việc cơ quan này khá thường xuyên điều chỉnh tăng tỉ giá trung tâm trong thời gian gần đây. Kết thúc tuần qua, tỉ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tăng thêm 11 đồng so với đầu tuần, lên mức 22.350 đồng/USD, là mức cao nhất từ trước đến nay. Cách đây 4 tháng, ngày 31/12/2016, tỉ giá trung tâm đứng ở mức 22.159 đồng/USD. Như vậy, tỉ giá trung tâm đã tăng 0,86% trong 4 tháng qua.

Trong bối cảnh tỉ giá VND/USD được áp dụng tại các ngân hàng thương mại diễn biến khá ổn định, thậm chí có nhiều lúc suy yếu (VND lên giá) thì việc nâng tỉ giá trung tâm của NHNN có vẻ như là một hành động “ngược dòng”, một điều khó hiểu. Bởi từ trước đến nay thường NHNN chỉ nâng tỉ giá trung tâm (hoặc tỉ giá liên ngân hàng trước đây) khi ở vào thế bí, buộc phải nâng dưới áp lực của thị trường khi tỉ giá tại các ngân hàng thường xuyên chạm trần.

Tuy vậy, nếu để ý thêm một số yếu tố khác thì sẽ thấy hành động nâng tỉ giá trung tâm của NHNN không còn là nghịch lý, khó hiểu nữa. Trước hết, tăng trưởng kinh tế quý 1 đã chậm lại, ở mức thấp nhất so với cùng kỳ trong vòng 3 năm trở lại đây. Tiếp đó, nhập siêu tăng liên tục trong 4 tháng qua, và hiện đã đạt mức 2,74 tỷ USD, là mức mà có tờ báo đã gọi là “choáng”. Trong khi đó, lãi suất cho vay vẫn đứng ở mức cao, thậm chí còn chịu áp lực tăng lên trong những tháng qua, còn lạm phát chỉ mới dịu lại gần đây khi chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 không thay đổi so với tháng 3, sau khi đã tăng tốc mạnh trong quý 1 năm nay so với cùng kỳ mấy năm trước.

Trong bối cảnh trên, NHNN sẽ phải rất thận trong với nới lỏng cung tiền để hạ lãi suất nhằm thúc đẩy tăng trưởng, vì nới lỏng cung tiền sẽ làm tăng nguy cơ lạm phát trở lại. Tăng cung tiền nhằm hạ lãi suất cũng đồng thời có nghĩa là mở rộng tổng cầu, kéo theo hậu quả không mong muốn là nhập khẩu tiếp tục gia tăng (nếu tỉ giá vẫn neo ổn định), làm tăng nhập siêu.

Trước tình huống khó khăn này, việc NHNN có thể làm được với ít tổn thất vĩ mô nhất là bật tín hiệu hoặc trực tiếp can thiệp để VND suy yếu thêm so với USD, thoát khỏi tình trạng ổn định như hiện nay. VND yếu đi sẽ đạt được cùng lúc mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng cũng như mục tiêu giảm nhập siêu. Và nếu NHNN làm VND yếu đi mà không phải dựa vào việc bơm thêm VND ra thị trường thì sự yếu đi này của VND sẽ không làm gia tăng áp lực lạm phát.

Như vậy, việc NHNN tăng tỉ giá trung tâm và đồng thời để Sở Giao dịch NHNN yết giá bán USD lên mức 23.001 đồng gần đây (ngày 28/4) là tín hiệu cho thấy NHNN mong muốn để VND yếu đi trực tiếp thông qua việc cung cấp USD với tư cách là nguồn cung cuối cùng ra thị trường với giá cao hơn giá thị trường.

Cách can thiệp vào tỉ giá này sẽ không làm tăng áp lực lạm phát vì NHNN không phải tăng cung VND. Tất nhiên là cách làm này sẽ có ít tác dụng (lên tỉ giá) chừng nào thị trường ngoại tệ còn tiếp tục tự thỏa mãn, tự cân bằng cung cầu mà không cần phải trông chờ vào nguồn cung USD từ NHNN.

Nhưng trong thời gian tới, nếu nhập siêu tiếp tục gia tăng thì USD sẽ trở nên khan hiếm hơn trên thị trường ngoại hối, buộc các ngân hàng phải quay sang nguồn cung USD từ NHNN với giá cao hơn, nhờ đó làm tăng tỉ giá VND/USD trên thị trường ngoại hối. Kết quả là nhập khẩu sẽ dịu đi, còn xuất khẩu nhận được thêm cú hích để tăng trưởng mạnh hơn, nhờ đó tiếp tục cải thiện tăng trưởng kinh tế.

Tóm lại, diễn biến điều hành tỉ giá gần đây cho thấy NHNN đang đi đúng hướng, thậm chí đây là lựa chọn duy nhất trong bối cảnh nhiều khó khăn và nhiều mục tiêu đan xen. Cũng có thể thấy thêm là NHNN sẽ tiếp tục để tỉ giá gia tăng trong thời gian tới, bất chấp sự suy yếu nói chung của USD, nếu tăng trưởng tiếp tục chậm lại còn nhập siêu tiếp tục tăng.

Tuesday, 25 April 2017

Tránh bộ máy cồng kềnh, bị lạm dụng (Bài đăng trên TBKTSG, 25/4/2017, tiêu đề do báo đặt)



Một điểm nổi bật trong dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) là những quy định về thành lập, hoạt động, chức năng, thẩm quyền và nhiệm vụ của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia (UBCTQG).
 
Không cần phải có Ủy ban cạnh tranh quốc gia
 
Mặc dù việc đưa ra mô hình UBCTQG có thể là kết quả của nhiều cuộc trao đổi và hội thảo chuyên ngành nhưng tự thân nó cho thấy sự lúng túng và bế tắc của các cơ quan hữu trách trong lập pháp và hành pháp.
 
Hẳn không ít người nhận thấy mấy năm gần đây có một xu hướng là cứ có vấn đề kinh tế - xã hội gì nổi cộm mà chưa được xử lý ổn thỏa thì thế nào cũng sẽ có các kiến nghị với đề xuất thành lập một cái ủy ban liên đới, nhiều đến mức độ có thể coi là “dịch ủy ban”. Chẳng hạn như các đề xuất thành lập Ủy ban tái cơ cấu kinh tế, Ủy ban xử lý nợ xấu, Ủy ban tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, Ủy ban về an toàn thực phẩm, Ủy ban quản lý vốn nhà nước, Ủy ban giám sát và kiểm soát nợ công, Ủy ban quản lý, giám sát vốn và tài sản nhà nước...
 
Chỉ cần nhìn vào danh sách sẽ tiếp tục dài thêm của những ủy ban kiểu này thôi là đã đủ “choáng” với hậu quả nhãn tiền là biên chế và bộ máy nhà nước sẽ tiếp tục phình to một cách “đúng quy trình” và ở quy mô và chi phí không thể kiểm soát được, vì mỗi ủy ban sẽ là cả một bộ máy đầy đủ ban bệ từ trên xuống dưới, nhân lên với nhiều ủy ban trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Quan trọng hơn, sự ra đời của những ủy ban này không có gì đảm bảo sẽ xử lý hiệu quả các vấn đề nổi cộm, chí ít vì các ủy ban này chồng chéo, làm thay, giẫm lên chân các cơ quan quản lý nhà nước liên đới khác.
   
 
Trở lại với các quy định về UBCTQG trong dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi), UBCTQG chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, còn Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về cạnh tranh. Các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với UBCTQG thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh.

Trong khi đã có Chính phủ “thống nhất quản lý nhà nước”, và bên dưới là cả một bộ máy thực hiện đồ sộ gồm các bộ và UBND thì rõ ràng không cần phải có UBCTQG. Mọi vấn đề vướng mắc, phát sinh trong thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh bởi các cơ quan chuyên trách như Bộ Tài chính, Bộ Công Thương (cần được Luật Cạnh tranh trao thêm nhiều quyền và nghĩa vụ liên quan trong quản lý nhà nước về cạnh tranh) sẽ được thống nhất giải quyết ở cấp Chính phủ mà không cần phải qua cấp trung gian là UBCTQG. Tạo thêm UBCTQG chẳng khác gì tạo thêm một Chính phủ trong lòng Chính phủ, vô hiệu hóa vai trò của các bộ chuyên trách, và đặt ra câu hỏi nghiêm túc về vai trò và chất lượng hoạt động của Chính phủ nói chung.
 
Hơn nữa, theo cùng logic trong dự thảo sửa đổi luật này và trở thành một tiền lệ, mỗi một văn bản luật mới ra đời có nhiều khả năng sẽ được đi kèm với sự ra đời của một ủy ban liên đới. Điều này là không thể chấp nhận được vì làm cho bộ máy quản lý nhà nước vốn đã quá cồng kềnh sẽ càng cồng kềnh hơn, kém hiệu quả và gây lãng phí tiền thuế của dân.
 
Dễ bị lạm dụng
 
Ngoài những quy định bất hợp lý về sự tồn tại và vai trò của UBCTQG, dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) còn có một số bất hợp lý khác. Điều 4 của dự thảo về quyền cạnh tranh trong kinh doanh quy định hoạt động cạnh tranh phải được tiến hành theo nguyên tắc trung thực, công bằng và lành mạnh, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng.
 
Quy định này không rõ ràng, dễ bề bị lạm dụng. Giả sử một nhà sản xuất mì ăn liền bằng phương pháp không chiên quảng cáo rùm beng rằng (phần lớn) các loại mì ăn liền khác hiện nay đều bị chiên, có nhiều chất béo bão hòa không có lợi cho sức khỏe. Chưa biết người tiêu dùng có chuyển sang mua loại mì mới này không nhưng chắc chắn là việc “tự nguyện công bố sự thật” này (đúng là sự thật) sẽ làm sụt giảm doanh số của các nhà sản xuất mì ăn liền truyền thống. Vậy hành vi này có vi phạm Luật Cạnh tranh, có được phép không khi nó vẫn đảm bảo nguyên tắc trung thực, công bằng và lành mạnh, có nghĩa là có sao nói vậy, dựa trên kết quả khách quan, không đâm đối thủ đằng sau lưng, nói xấu đối thủ một cách vô căn cứ, đồng thời vẫn làm lợi cho người tiêu dùng trên cái nghĩa là hạn chế họ ăn các sản phẩm độc hại?
 
Hay một ví dụ khác. Những đề xuất tương tự sau này như đề xuất về giá sàn vé máy bay gần đây có thể nhân danh Luật Cạnh tranh để được thông qua. Người đề xuất sẵn sàng cung cấp thông tin trung thực, minh bạch từ thực tế kinh doanh của mình để chứng minh rằng giá vé máy bay không thể nào lại là 0 đồng, hay dưới một ngưỡng nào đó (ngưỡng sàn) khi tính đầy đủ các loại chi phí. Việc hãng hàng không nào bán vé 0 đồng được quy cho là cạnh tranh không công bằng, lành mạnh để gia tăng thị phần nhằm hạ chi phí và tăng lợi nhuận sau này, xâm phạm đến lợi ích của doanh nghiệp khác (thua lỗ), lợi ích của Nhà nước (thất thu thuế), lợi ích công cộng (an toàn bay bị uy hiếp do cắt giảm chi phí liên quan), và của người tiêu dùng (chất lượng phục vụ giảm sút, sẽ phải mua vé giá cao sau này khi hàng bay giá 0 đồng thâu tóm được thị trường).
 
Ngoài ra, một hành vi sẽ không bao giờ có thể đảm bảo quyền, lợi ích cho mọi đối tượng có liên quan cùng một lúc. Nếu hành vi quảng cáo mì ăn liền hay đề xuất áp giá sàn vé máy bay nói trên được chấp thuận thì chúng chỉ có thể đảm bảo lợi ích cho một số đối tượng và sẽ xâm phạm lợi ích của một số đối tượng khác. Ví dụ, đề xuất giá sàn vé máy bay làm lợi cho các hãng hàng không “không thể bay rẻ” nhưng đồng thời cũng xâm phạm lợi ích của các hãng hàng không giá rẻ (0 đồng) và của hành khách khi phải mua vé đắt hơn.
 
Như vậy, một mặt cần quy định rõ ràng hơn điều 4 này để tránh tình trạng bị lạm dụng theo kiểu muốn hiểu, vận dụng kiểu gì cũng đúng. Mặt khác, cần có một cơ chế về thanh tra, phúc khảo một cách độc lập các quyết định, phán quyết về cạnh tranh để tránh tình trạng các quyết định, phán quyết này bị sai hay thiếu sót, không công tâm, mang màu sắc lợi ích nhóm. Dự thảo luật hiện chưa có những quy định liên quan đến các vấn đề này.
 
Những bất hợp lý khác
 
Tương tự, khoản 4, điều 5 của dự thảo luật liên quan đến chính sách của Nhà nước về cạnh tranh, nêu: “Kết hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách cạnh tranh với chính sách thương mại, chính sách công nghiệp và chính sách điều tiết ngành”. Sự kết hợp này cụ thể nhằm mục đích gì, đồng bộ và hiệu quả như thế nào? Liệu điều này có thể bị lạm dụng để mở đường cho những quyết định hạn chế cạnh tranh, ảnh hưởng người tiêu dùng như tăng thuế nhập khẩu để bảo vệ lợi ích của một nhóm nhà sản xuất nội địa dưới danh nghĩa là để phục vụ chính sách công nghiệp hóa, tạo công ăn việc làm?
 
Trong điều 6 về hành vi bị cấm đối với cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, khoản 1 quy định cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được chỉ định mua, bán hàng hóa, dịch vụ với doanh nghiệp được các cơ quan này chỉ định trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật.
 
Quy định này không hợp lý ở chỗ độc quyền nhà nước về hàng hóa và dịch vụ không có nghĩa là độc quyền nhà nước về doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ đó. Kể cả có một doanh nghiệp nhà nước duy nhất sản xuất một loại hàng hóa độc quyền nhà nước, ví dụ như thuốc lá điếu, thì ít nhất cũng phải cho phép các đại lý được tự do cạnh tranh trong việc cung cấp thuốc lá với giá khác nhau, tùy theo mức độ chấp nhận hoa hồng của mỗi đại lý, chứ không nhất thiết phải bắt người tiêu dùng chỉ được mua tại đại lý X, Y, Z...

Monday, 17 April 2017

Tiền không “chết”! (Bài đăng trên CafeF, 16/4/2017, bản gốc)


http://cafef.vn/tien-khong-chet-20170416175256669.chn

Theo Tổng cục Thống kế, tính đến ngày 20/3/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,88% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 3,08%). Huy động vốn của các ngân hàng thương mại tăng 2,43% (cùng kỳ năm 2016 tăng 2,26%). Tăng trưởng tín dụng 3 tháng đầu năm đã tăng mạnh nhất trong vòng 6 năm trở lại đây, đạt 2,81%
Trong khi đó, tăng trưởng GDP quí 1 năm nay chỉ đạt 5,1%, thấp nhất trong 3 năm gần đây (6,12% của quí 1/2015 và 5,48% của quí 1/2016). Trong bối cảnh cung tiền và tín dụng tiếp tục tăng trưởng mạnh nhưng tăng trưởng GDP lại suy giảm, vấn đề được đặt ra là đây có phải là nghịch lý không, và vậy thì tiền đi đâu?

Tiền không “chết”! 
Cũng có nhiều người giải thích rằng tiền NHNN “bơm” ra nền kinh tế và được các ngân hàng thương mại huy động đang được các ngân hàng này sử dụng để trả lãi cho vốn huy động về để cho vay nhưng những khoản vay này đã biến thành nợ xấu (vì thế không thu được lãi và vốn), đồng thời phải đem “cất kho” một phần để sẵn sàng thanh toán cho người gửi tiền khi đến hạn thanh toán. Giải thích này không thỏa đáng lắm vì nếu phần vốn “chết” để giải quyết nợ xấu lớn đáng kể thì tăng trưởng tín dụng không thể tăng mạnh như vậy (2,81%), mà lại còn mạnh nhất trong 6 năm qua, trong khi tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán (cung tiền) tăng chậm hơn cùng kỳ năm trước.

Hơn nữa, dù ngân hàng có cần phải dự trữ sẵn vốn để thanh toán cho khoản vốn huy động bị biến thành nợ xấu khi đến thời điểm đáo hạn thì họ cũng không cần phải đem số vốn này “cất kho” theo đúng nghĩa đen. Vì sự đáo hạn vốn huy động phần lớn là biết trước, có lịch trình cụ thể, nên các ngân hàng hoàn toàn có thể chủ động đem số vốn này cho vay hoặc đầu tư có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn để đến lúc cần có thể rút về chi trả cho người gửi tiền. Mà nếu làm như vậy thì số vốn này không phải là vốn “chết”, và vẫn sẽ được phản ánh vào mức tăng trưởng tín dụng của ngân hàng.

Kể cả với số vốn huy động từ nguồn tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền có trong tài khoản thanh toán của khách hàng thì ngân hàng cũng không cần phải “cất kho” một số tiền tương ứng để sẵn sàng trả lại cho khách khi khách rút ra. Một phần đơn giản vì ngân hàng cũng thường xuyên huy động vốn có kỳ hạn và không kỳ hạn nên luồng vốn vào ra luôn quay vòng, không đến mức thiếu hụt, không trông vào đâu để chi trả nên không cần phải dự trữ quá nhiều tiền mặt. Kể cả trong những thời điểm khan hiếm thanh khoản, các ngân hàng hoàn toàn vẫn có thể trông cậy vào các nguồn như vay liên ngân hàng, rút từ khoản tiền gửi của mình tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN), hoặc vay (chiết khấu) từ NHNN v.v…
Nói cách khác, không có lý do đáng tin cậy để cho rằng tuy cung tiền và tín dụng đã tăng mạnh như vừa qua nhưng đã có một phần đáng kể số tăng lên này bị “hút” vào giải quyết nợ xấu nên làm giảm đà tăng trưởng GDP.

Tăng trưởng tín dụng không nhất thiết đồng nhịp với tăng trưởng GDP
Vậy phải giải thích thế nào về tình trạng tín dụng tăng mạnh mà GDP lại giảm tốc trong quý 1? Điều trước tiên có thể nói ngay được là tuy tăng trưởng tín dụng có thể có mối liên hệ gắn kết nào đó với tăng trưởng GDP nhưng điều này không có nghĩa là nếu quý 1 có tăng trưởng tín dụng mạnh hơn thì tăng trưởng GDP của quý 1 cũng sẽ phải cao hơn. Rất có thể tác động của tăng trưởng tín dụng trong quý 1 sẽ được phản ánh ở tăng trưởng GDP ở quý 2, quý 3, quý 4 hoặc thậm chí tận năm sau.

Để dễ hiểu, chẳng hạn có một dự án đầu tư lớn được ngân hàng giải ngân vay vốn cuối tháng 3, và vốn giải ngân này sẽ được tính vào tổng tín dụng cho nền kinh tế trong quý 1. Nhưng số vốn giải ngân này nếu có phát huy tác dụng lên tăng trưởng thì chỉ là bắt đầu từ quý 2, và thậm chí chỉ có tác dụng đáng kể càng về sau này khi nó bắt đầu lôi kéo theo, kích hoạt các hoạt động kinh tế khác và nhất là khi dự án hoàn thành và bắt đầu đi vào sản xuất.
Thứ hai, tăng trưởng tín dụng không tỷ lệ thuận với tăng trưởng GDP theo kiểu tín dụng tăng X% thì GDP phải tăng trưởng Y%. Tăng trưởng GDP phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó tín dụng chỉ là một chứ không phải là tất cả. Ngoài chuyện “lệch pha” trên, rất có thể trong quý 1 (hoặc quý nào cũng vậy) đã có những diễn biến bất lợi nào đó làm cho GDP tăng trưởng yếu đi, làm giảm tác động từ yếu tố tín dụng tăng mạnh lên tăng trưởng GDP.

Thứ ba, cũng theo nguyên lý “nhiều quá thì cũng không tốt”, cung tiền và tín dụng tăng mạnh nhiều khi làm “bội thực” nền kinh tế thực nên rốt cuộc tiền chạy lòng vòng, chảy vào các tài sản tài chính và đầu cơ, không có tác động tích cực đến tăng trưởng GDP.
Ví dụ, người A vay tiền ngân hàng để mua cổ phiếu làm tăng giá cổ phiếu. Người B bán cổ phiếu cho A nhận được tiền nhưng không gửi vào ngân hàng mà tiếp tục mua cổ phiếu khác hoặc tài sản khác (gồm bất động sản, vàng và ngoại tệ), và cứ như vậy. Trong trường hợp này, tổng tín dụng có tăng nhờ ngân hàng cho những người như A vay, nhưng tín dụng chảy vào nền kinh tế thực không tăng hoặc tăng không tương xứng với lượng tín dụng mà ngân hàng rót cho những người như A. Do đó, tăng trưởng của nền kinh tế thực không thay đổi (đáng kể), dù trên thực tế tổng tín dụng đã tăng (mạnh).

Để cho dễ hình dung hơn, hãy nhớ lại thời điểm mấy năm trước đây có lúc tín dụng tăng vọt 30-40%/năm trong khi GDP chỉ tăng trưởng quanh quẩn 5%/năm, đi kèm với sự tăng mạnh giá cổ phiếu, vàng và ngoại tệ, cũng như lạm phát. Và trong quý 1 vừa qua, với giá cổ phiếu, vàng, ngoại tệ đều đứng ở mức cao, còn lạm phát đang trên đà “cất cánh”, phải chăng điều này phản ánh rõ nét câu chuyện “tiền đi đâu”?

Tóm lại, có nhiều lý do để thấy tăng trưởng tín dụng không phải là một chỉ biểu hữu hiệu cho, cũng không phải là yếu tố quyết định đến tăng trưởng GDP. Và do không có một mối liên hệ vững chắc giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP nên cần tránh chính sách “thúc” tăng trưởng tín dụng bằng mọi cách, nhiều khi bất cẩn, nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP.  

Saturday, 15 April 2017

Hiểu thế nào về thông điệp “Sẽ không đặt ra vấn đề NHNN mua lại các ngân hàng với giá 0 đồng”?

Khi thảo luận về dự thảo Luật Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật vừa qua đã đi đến thống nhất từ nay sẽ không đặt ra vấn đề Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua lại các ngân hàng với giá 0 đồng.
Về thông điệp này, đã có một số ý kiế diễn giải khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng thông điệp về chấm dứt việc mua ngân hàng 0 đồng chỉ là vấn đề câu chữ. Vì những ngân hàng có giá trị thực của vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 0 đồng bị mua bắt buộc thì không thể mua với giá nào khác ngoài 0 đồng (hay điều chỉnh một chút thành 1 đồng).
Ý kiến thứ hai thì phản bác quan điểm trên, rằng việc dừng mua ngân hàng 0 đồng không phải là chuyện thay đổi câu chữ, hiểu như vậy là sai với chủ trương và lộ trình phát triển mà NHNN đang theo đuổi. Dự thảo được xem là “phát pháo” đánh dấu cho tính nhất quán từ khâu thanh tra giám sát, xử lý ngân hàng yếu kém, thực hiện chuẩn Basel 2 và phát triển thị trường tài chính. NHNN đang hướng tới việc cho ngân hàng được sẽ hoạt động theo cơ chế thị trường và khách hàng gửi tiền cần “chọn mặt gửi tiền”. Bởi khách hàng ham ngân hàng có lãi suất cao thì đồng nghĩa họ sẽ phải tự gánh chịu rủi ro.

Cũng có ý kiến thứ ba không bàn trực tiếp vào phải hiểu thông điệp này thế nào cho đúng mà lại bàn rộng ra về tính hai mặt của việc mua ngân hàng 0 đồng, nhấn mạnh vào mặt trái của nó là không đúng với xu hướng kinh tế thị trường, không đúng với xu hướng thế giới và đặc biệt gây tăng mất cân đối ngân sách cũng như là nợ công. Hơn nữa việc mua ngân hàng 0 đồng khiến cho tình trạng đầu cơ, làm ăn phi pháp, chộp giật theo kiểu biến lợi ích của Nhà nước thành con tin có nguy cơ gia tăng. Bởi vậy, ý kiến này cho rằng việc NHNN dừng mua ngân hàng 0 đồng là chủ trương đúng và kịp thời. Song đồng thời cũng cần cảnh báo sớm và nhận diện những ngân hàng có vấn đề sớm để không xảy ra tình trạng buộc phải chuyển giao hoặc kiểm soát đặc biệt… Do đó, vấn đề ở đây không chỉ là dừng mua ngân hàng 0 đồng mà cần phải ngăn chặn để phát sinh những ngân hàng 0 đồng như vậy. 

Các ý kiến trên phần nào mới chỉ hiểu/diễn giải thông điệp của Chính phủ từ một khía cạnh, hoặc đơn giản là… lạc đề, nhất là các ý kiến thứ hai và thứ ba!
Với ý kiến thứ nhất, đúng là các ngân hàng yếu kém đã thuộc diện mua lại bắt buộc thì thường có vốn chủ sở hữu âm. Nhưng điều này không có nghĩa là NHNN chỉ được mua lại các ngân hàng yếu kém này với giá 0 đồng, 1 đồng, hoặc một cái giá tượng trưng nào đó mà không phải là âm đồng (tức là giá mua nhỏ hơn những thứ có giá trị được tặng/đưa/kèm thêm). Vì vốn chủ sở hữu của ngân hàng yếu kém lúc này đã âm nên nếu được NHNN mua với cái giá 0 đồng thì cái giá này thậm chí vẫn còn là quá hời cho các ngân hàng yếu kém khi xét đến nghĩa vụ chi trả mà nó và cổ đông của nó phải thực hiện nếu không được NHNN mua lại (và chịu trách nhiệm thay).

Do đó, thông điệp trên cũng có thể hiểu rằng NHNN vẫn có thể mua lại bắt buộc các ngân hàng yếu kém với một cái giá (tượng trưng) nào đó, chắc chắn không phải là 0 đồng, nhưng đồng thời các ngân hàng này và cổ đông của chúng vẫn phải có trách nhiệm tiếp tục khắc phục các hậu quả để lại (ví dụ, nợ xấu, vốn ảo, sở hữu chéo v.v…).
Việc này không phải là khó hiểu, chưa từng có trước đây ở Việt Nam. Thực ra, gần 2 năm trước đây đã có vụ việc sáp nhập một ngân hàng thương mại với một ngân hàng thương mại khác, và một cổ đông lớn của ngân hàng bị sáp nhập đã “tự nguyện” ủy quền cho NHNN thực hiện đầy đủ các quyền cổ đông của mình sau khi sáp nhập. Vị này cũng “tự nguyện” cam kết sẽ bổ sung thêm các tài sản khác thuộc sở hữu của mình nếu giá trị tài sản đảm bảo cho các nghĩa vụ nợ của mình không đủ.

Việc NHNN mua lại với một cái giá không phải là 0 đồng nhưng vẫn bắt buộc các cổ đông hiện tại của ngân hàng yếu kém thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ của mình là một điều khôn ngoan, cần thiết, vừa tránh được dị nghị của dư luận về quyền/ý chí của cổ đông hiện tại, vừa vẫn đảm bảo việc mua lại này của NHNN không làm thiệt hại cho nhà nước (vì tự nhiên phải mang thêm nợ do người khác để lại).
Ngoài khả năng trên, thông điệp trên cũng có thể bao hàm một khả năng khác là việc mua lại bắt buộc ngân hàng yếu kém với cái giá 0 đồng vẫn sẽ được thực hiện, nhưng người mua bắt buộc này sẽ không còn, không phải là NHNN nữa, mà là một tổ chức tín dụng hay một doanh nghiệp khác (tất nhiên là dưới sự chỉ đạo, chỉ định của NHNN). Tất nhiên, trong trường hợp này, nếu cần thiết thì việc mua lại bắt buộc với giá 0 đồng hay một cái giá tượng trưng nào khác vẫn có thể sẽ được đi kèm với điều kiện là các cổ đông hiện tại của ngân hàng yếu kém sẽ vẫn phải tiếp tục thực hiện đầy đủ các trách nhiệm và nghĩa vụ của mình để tránh làm thiệt hại liên đới cho tổ chức đứng ra mua bắt buộc này.

Thursday, 13 April 2017

Tour 0 đồng - ứng xử kiên quyết nhưng tránh cực đoan (Bài đăng trên TBKTSG, 14/4/2017, bản gốc)


http://www.thesaigontimes.vn/158971/Tour-0-dong---ung-xu-kien-quyet-nhung-tranh-cuc-doan.html

Dư luận gần đây bức xúc với nạn “tour 0 đồng” thu hút đông đảo du khách từ Trung Quốc, làm xấu hình ảnh của ngành du lịch Việt Nam với nhiều cửa hàng chuyên bán cho khách Trung Quốc với giá cắt cổ. Chính quyền đã xử lý tình trạng này bằng việc buộc đóng cửa một số cửa hàng này. Tuy nhiên, biện pháp này xem ra là chưa đủ.
Việt Nam không phải là “nạn nhân” duy nhất

Ở khu vực, ngoài Việt Nam, còn có nhiều điểm đổ bộ được “ưu ái” của nhiều tour 0 đồng từ Trung Quốc như Hong Kong, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thailand và một số nước Đông Nam Á khác. Nếu ở Việt Nam có tour 0 đồng thì ở nhiều nước cũng có các tour gọi là “zero dollar tour”. Tuy mang lại thu nhập lớn cho kinh tế bản địa nhưng làn sóng du khách Trung Quốc đã làm “bội thực”, tạo ra nhiều tiếng xấu cho những nước này.  
Để “gỡ gạc” lại chi phí bỏ ra để tổ chức tour, các công ty du lịch phải dựa hoàn toàn vào việc mua sắm của du khách, mà phần nhiều là mua sắm theo kiểu cưỡng bức, tương tự như nạn “cơm tù” một thời thịnh hành ở Việt Nam. Đã có không ít xô xát thậm chí gây chết người giữa du khách với cửa hàng “tù” hoặc hướng dẫn viên du lịch (HDV), là người buộc du khách phải mua đủ một số lượng hàng hóa trước khi để cho họ thoát ra khỏi cửa hàng mà HDV “nhốt” họ vào đó. Ví dụ, năm 2015, ở Hong Kong, một du khách Trung Quốc đã bị bốn nhân viên của một cửa hàng đồ trang sức đánh chết vì đứng ra can ngăn xô xát giữa một thành viên trong đoàn, người từ chối mua bất cứ thứ gì trong cửa hàng, với HDV.

Mục đích đi du lịch của du khách Trung Quốc cũng “vô tình” tiếp tay cho nạn tour 0 đồng. Trong quan niệm của nhiều người Trung Quốc, các chuyển đi nước ngoài có mục đích chính không phải là để du lịch – một khái niệm khá mới mẻ với họ, mà là để mua sắm. Rất thường xuyên du khách Trung Quốc sẽ không biết phải làm gì tiếp theo nếu để họ có thời gian và tự quyết định.
Cũng cần lưu ý là tuy Nhật Bản và Hàn Quốc cũng nằm trong danh sách điểm đến ưa thích của các tour giá rẻ từ Trung Quốc nhưng các tour này ít điều tiếng hơn, chủ yếu nhờ vào chất lượng hàng hóa cao hơn và sự quản lý thương mại tốt hơn.

Chính phủ hành động
Nhiều nước trong khu vực gần đây đã có những hành động mạnh tay dẹp nạn tour 0 đồng. Trong một nỗ lực phối hợp chung với Thái Lan, Trung Quốc đã buộc các công ty du lịch đặt giá sàn cho một ngày du lịch trong các tour, cũng như cấm các công ty này chào mời các tour với giá thấp không tưởng, chủ yếu nhắm đến đối tượng khách hàng lần đầu tiên du lịch nước ngoài. Họ cũng chế tài các trang chủ của các công ty du lịch nhằm cấm đưa ra những thông tin sai lệch. Các công ty du lịch còn phải công khai chi tiết các loại chi phí bao gồm trong gói tour, và chỉ được khách mua tour thanh toán tại Trung Quốc. Công ty du lịch Trung Quốc và đối tác của họ tại Thái Lan phải khai báo chính xác số lượng du khách Trung Quốc đến Thái Lan…

Về phía Thái Lan, các cửa hàng tham gia vào việc mua hàng cưỡng bức hay bán hàng giả, hàng nhái địa phương và các thương hiệu nước ngoài sẽ bị phạt nặng vì tội trốn thuế và xử lý hành chính nếu chúng lừa dối khách hoặc bán cho họ với giá cắt cổ hay xâm phạm đến quyền lợi của du khách. Thái Lan cũng dẹp bỏ 2.500 xe bus du lịch tham gia các tour giá rẻ.
Chính quyền Đài Loan hồi đầu năm ngoái đã yêu cầu điều tra ngay lập tức các tour giá rẻ ở Đài Loan sau khi một xe bus du lịch gặp nạn làm chết 33 người và bị thương 11 người. Có nhiều tai nạn xảy ra cho các xe bus du lịch trong các tour giá rẻ trong mấy năm gần đây, làm chính quyền Đài Loan lo ngại về lỗ hổng trong quản lý làm lọt lưới các xe bus du lịch không an toàn được các công ty du lịch lựa chọn để cắt giảm chi phí.   

Tất nhiên là việc xử lý mạnh tay như trên chắc chắn sẽ làm giảm đáng kể số lượng du khách Trung Quốc đặt chân đến nước sở tại. Như ở Thái Lan, chỉ trong vòng hơn một tháng sau khi Trung Quốc và Thái Lan cùng phối hợp ra tay dẹp nạn “zero dollar tour”, lượng du khách Trung Quốc đến Thái Lan đã tụt giảm 20-25%. Nhiều doanh nghiệp ở cả hai quốc gia bị ảnh hưởng mạnh. Ví dụ, công ty Beauty Community ở Thái Lan có tới 25% doanh thu đến từ du khách Trung Quốc. Ở Trung Quốc, các công ty du lịch và bán lẻ cũng sẽ bị ảnh hưởng vì ước tính có tới 90% số tour nơi đây được chào bán rơi vào dạng tour có giá thấp không tưởng.
Tuy vậy, công bằng mà nói thiệt hại thực tế từ tụt giảm số lượng du khách có thể không lớn đến vậy vì phần lớn thu nhập từ các tour 0 đồng tạo ra đều bị thâu tóm bởi phía nước ngoài nắm toàn bộ chuỗi cung cấp. Nhiều tour du lịch Trung Quốc có HDV Trung Quốc, du thuyền và xe bus riêng được điểu khiển đằng sau bởi các ông chủ Trung Quốc. 

Việt Nam cần làm gì?
Trước tiên, cần tránh phản ứng cực đoan là “nói Không” với du lịch mua sắm của du khách Trung Quốc nói chung. Thay vào đó, Việt Nam cần theo hướng của Thái Lan khi chủ động khuyến khích và chào đón những du khách Trung Quốc đến nước này theo từng nhóm nhỏ, độc lập, tự phát (tự đi, không theo các tour từ Trung Quốc). Dù có thể là du lịch mua sắm nhưng những du khách này có điều kiện kinh tế tốt hơn những du khách theo tour giá rẻ nên thường chi tiêu nhiều hơn tại địa phương. Và vì họ tự do đi lại, không bị “chăn dắt” bởi các HDV trong các tour giá rẻ nên việc chi tiêu với giá trị lớn hơn của họ sẽ có lan tỏa mạnh hơn đến nền kinh tế bản địa. Thái Lan cũng cung cấp nhiều dịch vụ nhắm đến đối tượng du khách này như mở ra các trung tâm dịch vụ du lịch và mua sắm, với xe bus kết nối đưa đón du khách từ khách sạn đến các trung tâm này và sân bay. 

Tiếp đó, Việt Nam cần mạnh tay xử lý để giảm thiểu các tour 0 đồng với các biện pháp mà các nước trong khu vực đã áp dụng như nói ở trên, không chỉ dừng lại ở biện pháp đóng cửa, dừng hoạt động các cửa hàng chỉ bán cho khách Trung Quốc. Bởi các cửa hàng khác tuy có mở bán cho cả khách Việt Nam nhưng nếu họ vẫn niêm yết giá cả trên trời như trước thì bản chất sự việc vẫn không thay đổi (người Việt vẫn không mua được, còn du khách Trung Quốc vẫn bị chặt chém). 
Việc phối hợp với Chính phủ Trung Quốc để xử lý tour 0 đồng giống như kinh nghiệm của Thái Lan cũng là điều nên thực hiện để các công ty du lịch giá rẻ Trung Quốc không chuyển hướng từ các thị trường khác sang Việt Nam.

Sau cùng, Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn khách du lịch, tránh phụ thuộc quá nhiều vào nguồn du khách Trung Quốc. Việc đa dạng hóa này là cần thiết để trước mắt hạn chế tác động tiêu cực về mặt kinh tế từ việc xử lý các tour 0 đồng chắc chắn sẽ làm tụt giảm mạnh lượng du khách Trung Quốc đến Việt Nam trong ngắn hạn. Ngoài ra, cũng cần lưu tâm đến khả năng Trung Quốc sử dụng con bài du khách như là một công cụ chính trị để gây sức ép lên các nước láng giềng khi có biến cố nào đó xảy ra. Bằng việc hạn chế đột ngột lượng du khách từ Trung Quốc, Chính phủ nước này có thể tạo ra sức ép kinh tế lớn lên các nước họ muốn gây sức ép, như đã được chứng kiến ở Hàn Quốc và Đài Loan gần đây.  

Tuesday, 11 April 2017

Chủ tịch hội đồng quản trị có nên kiêm giám đốc? (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 11/4/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/158725/Chu-tich-hoi-dong-quan-tri-co-nen-kiem-giam-doc.html 
 
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) vừa công bố dự thảo thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định về quản trị công ty. Theo đó, chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) công ty đại chúng không được kiêm nhiệm chức danh giám đốc (CEO).
 
Lợi ích
 
Về khái niệm, CEO là người quản lý chính của một công ty, còn chủ tịch HĐQT là người đứng đầu HĐQT, đại diện cho cổ đông, có nhiệm vụ giám sát việc quản lý công ty. Do đó, trên nguyên tắc, kết hợp hai chức vị này cho một người sẽ tạo ra xung đột lợi ích. Ngược lại, tách biệt hai chức năng này sẽ tiết kiệm chi phí và cải thiện tính hiệu quả của công ty đại chúng, thể hiện ở ba lợi ích sau đây.
 
Thứ nhất, đó là giảm rủi ro “phóng tay” đãi ngộ hào phóng cho ban giám đốc công ty đại chúng. Mức đãi ngộ (lương, thưởng) cho ban giám đốc phải ở thế cân bằng giữa việc không được cao quá làm tụt giảm quá mức lợi nhuận trả cho cổ đông nhưng đồng thời phải đủ hấp dẫn để giữ chân người quản lý có năng lực. HĐQT của công ty bỏ phiếu thông qua việc tăng mức đãi ngộ này. Do đó, nếu chủ tịch HĐQT cũng là CEO thì sẽ có xung đột lợi ích ở đây, khi CEO tự bỏ phiếu về mức đãi ngộ cho chính mình.
 
Thứ hai, củng cố quản trị doanh nghiệp. Một trong những vai trò chính của HĐQT là giám sát hoạt động của công ty nhằm bảo đảm rằng công ty được điều hành theo phương hướng đặt ra phù hợp với ý chí của cổ đông. Việc điều hành như vậy là trách nhiệm của CEO công ty. Nhưng nếu CEO cũng là chủ tịch HĐQT thì lại sẽ tạo ra kẽ hở cho lạm dụng quyền lực, mà trực tiếp là khả năng vị này sẽ lèo lái công ty xa rời với phương hướng hoạt động đã được thông qua của công ty, đi ngược lại lợi ích của cổ đông mà không được phát hiện và chấn chỉnh kịp thời để tránh gây ra những hậu quả lớn.
 
Thứ ba, theo luật, ban kiểm soát có thể chỉ gồm các thành viên độc lập (không phải trong ban giám đốc điều hành) và ban này báo cáo trực tiếp với chủ tịch HĐQT của công ty. Tuy nhiên, nếu chủ tịch cũng đồng thời là CEO thì tính độc lập và hiệu quả của ban này sẽ bị hạn chế. Ví dụ, theo luật, nhân viên công ty phát hiện và tố cáo các sai phạm trong công ty trực tiếp với ban kiểm soát mà không sợ bị trả đũa. Nếu ban kiểm soát nằm trong tay của chủ tịch HĐQT kiêm CEO thì nhân viên sẽ không còn dám tố cáo nữa, và nếu có thì vẫn sẽ có khả năng là ban kiểm soát sẽ “lờ” vụ việc này đi.
 
Hạn chế
   
 
Trên thực tế, mô hình tách biệt chức năng trên cũng có một số hạn chế. Trước hết, đó là ranh giới trách nhiệm có sự không rõ ràng, chồng lấn giữa chủ tịch HĐQT, CEO và HĐQT, gây ra sự bối rối ai mới là người thật sự “cầm chịch” trong công ty, gây khó khăn trong điều hành hoạt động của công ty, đặc biệt trong những thời điểm cần sự nhất quán về phương hướng. Do đó, để mô hình này hoạt động hữu hiệu thì chủ tịch HĐQT cần phải tự biết kiềm chế quyền lực của mình, không can thiệp mạnh và sâu vào việc điều hành công ty của CEO - điều này là tương đối khó khăn, đặc biệt khi vị này bảo thủ và đã trải qua vị trí CEO thành công của công ty.

Chủ tịch HĐQT có xu hướng và có thể dễ dàng “lấn sân” CEO cũng sẽ làm giảm tính độc lập, tách biệt của HĐQT, chủ tịch HĐQT với công việc quản lý công ty - điều tối cần thiết cho việc quản trị doanh nghiệp hiệu quả. HĐQT cần phải giữ khoảng cách với bộ máy quản lý công ty để trở thành bộ phận giám sát độc lập việc quản lý, điều hành hoạt động của công ty. Chủ tịch HĐQT chỉ được làm “sếp” của HĐQT (trừ một số trường hợp như công ty gặp khủng hoảng thì chủ tịch và CEO cùng chia nhau vai trò lãnh đạo).
 
“Ngược dòng”?
 
Do những hạn chế trong mô hình tách biệt hai chức năng nêu trên, nên hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều trường hợp chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm và tái kiêm nhiệm chức danh CEO, hoặc ngược lại, đặc biệt là các công ty lớn. Ví dụ, ở Mỹ, năm 2014, CEO Ngân hàng Bank of America, Brian Moynihan, được bổ nhiệm kiêm nhiệm chức vị chủ tịch HĐQT, sau khi chức vị này được nắm giữ bởi một thành viên độc lập trong HĐQT từ năm 2009. Hãng Disney thì tái lập sự kiêm nhiệm hai chức vị này vào năm 2012 sau khi tách biệt chúng từ năm 2008. Chủ tịch HĐQT kiêm CEO Larry Ellison của hãng Oracle thì đã từ chức CEO nhưng vẫn là chủ tịch HĐQT đồng thời kiêm nhiệm chức vị CEO công nghệ. CEO của Hewlett-Packard Enterprise, Meg Whitman, cũng đồng thời là Chủ tịch HĐQT của HP Inc. Còn ở Darden Restaurant, CEO Charles Ledsinge Jr. được bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT.

Điều có thể giải thích cho hiện tượng kiêm nhiệm, kết hợp này, đặc biệt ở Mỹ, đi ngược lại với xu hướng chung trên thế giới, là quan niệm cho rằng cần có một nhà lãnh đạo mạnh duy nhất trong công ty. Theo đó, CEO cần được trao quyền lực tuyệt đối để điều hành công ty, đặc biệt khi phải tiến hành những thay đổi lớn dễ bị cản trở bởi cơ cấu quyền lực phân tán. Theo lời một vị nguyên là chủ tịch HĐQT kiêm CEO của một công ty Mỹ thì: “Một lãnh đạo có quyền lực tối cao thì không phải là điều dễ chịu để sống cùng, nhưng là một cách rất có hiệu quả để tiến hành những việc cần thiết”.

Vì vậy, ở Mỹ, nhiều công ty chỉ tách biệt hai chức vị này khi chúng bị áp lực phải làm vậy, và khi có sự cố xảy ra. Với trường hợp của Bank of America, khủng hoảng tài chính năm 2008 buộc họ phải bổ nhiệm một thành viên HĐQT độc lập làm chủ tịch HĐQT. Sau đó, có thể vì Brian Moynihan đang nắm giữ cương vị CEO nên HĐQT thấy sẽ là an toàn khi cất nhắc vị này lên làm chủ tịch HĐQT. Tương tự như vậy với Disney, buộc phải bổ nhiệm một chủ tịch HĐQT độc lập để giải tỏa áp lực từ cổ đông trước kết quả hoạt động yếu kém lúc đó. Ở một số trường hợp khác thì việc tách biệt này chỉ là tạm thời, ví dụ, để dọn đường chuẩn bị cho vị CEO, chủ tịch HĐQT chuẩn bị về hưu.
 
Ngược lại, do có sự khá phổ biến về mô hình kết hợp “hai trong một” như vậy nên nếu một công ty Mỹ nào đó tách biệt hai chức năng này có thể sẽ bị nhìn nhận là thiếu lòng tin vào vị CEO của nó, ảnh hưởng đến uy tín và tính hiệu quả trong công việc của người này. Ngoài ra, việc một người đảm nhiệm hai chức vị có một lợi ích là sẽ chỉ có duy nhất một người chịu trách nhiệm cuối cùng khi có vụ việc gì đó xảy ra. Không như với trường hợp tách bạch hai chức vị này ở các nước khác, khi có vụ việc xảy ra, sẽ xử lý, sa thải ai đây? Chủ tịch HĐQT? CEO? Hay cả hai?
 
Chọn mô hình nào?
 
Tóm lại, cả hai mô hình, tách biệt hoặc hợp nhất, hai chức vị chủ tịch HĐQT và CEO đều có ưu điểm và nhược điểm. Quan trọng hơn, không có lý do đủ mạnh để cổ xúy cho mô hình tách biệt thay cho mô hình hợp nhất, đặc biệt với những công ty lớn như kiểu của Mỹ. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là không (bao giờ) nên tách biệt hai chức vị này. Khi tách biệt, điều cần thiết là phải xác định vai trò và chức năng của chủ tịch HĐQT và CEO một cách rõ ràng và cẩn thận để khắc phục những hạn chế trong mô hình tách biệt hai chức vị như nêu ở trên. Để đảm bảo một nền quản trị doanh nghiệp hiệu quả cùng tồn tại với việc giám sát hiệu quả doanh nghiệp, cần phải tránh để xảy ra tình trạng chủ tịch HĐQT và CEO mỗi người hành động theo ý muốn riêng mà không có một bộ quy tắc ứng xử chung.
 
Khi tách biệt, một điều quan trọng khác cần thực hiện là có quy định pháp lý trao thêm quyền hạn chế cho các thành viên độc lập trong HĐQT và quy định hình thành vị trí người lãnh đạo các thành viên độc lập này - người không phải là chủ tịch HĐQT. Những thành viên độc lập và người lãnh đạo của họ có quyền, trách nhiệm riêng có như thảo luận công khai về chất lượng hoạt động của chủ tịch HĐQT, CEO và mức đãi ngộ cho HĐQT, CEO. Họ cũng nên có một số quyền hạn chế khác như xem xét chương trình nghị sự của chủ tịch HĐQT chuẩn bị cho các cuộc họp của HĐQT... Việc có thêm người lãnh đạo các thành viên độc lập này sẽ tạo ra thế cân bằng tốt hơn giữa công tác quản trị doanh nghiệp (của CEO) và công tác giám sát độc lập (của chủ tịch HĐQT).

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).