Thursday, 14 December 2017

Xử lý tình trạng “né” thuế của các công ty đa quốc gia (Bài đăng trên TBKTSG, 14/12/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/266336/Xu-ly-tinh-trang-ne-thue-cua-cac-cong-ty-da-quoc-gia.html
Từ nhiều năm nay các cơ quan chức năng ở Việt Nam vẫn loay hoay tìm cách thu “đủ” thuế từ các công ty đa quốc gia, nhất là các công ty cung cấp các dịch vụ số xuyên biên giới trong các lĩnh vực quảng cáo trực tuyến, thương mại điện tử, chia sẻ, đặt chỗ như Facebook, Google, Amazon, Airbnb, Grab, Uber, Agoda hay Traveloka...
Ngoài Việt Nam, việc các công ty đa quốc gia chỉ trả thuế ở một mức mang tính tượng trưng không tương xứng với quy mô hoạt động và lợi nhuận cao của chúng ở nước sở tại đã trở thành một vấn nạn mang tính toàn cầu, làm đau đầu cơ quan thuế vụ ở nhiều nước trong việc tìm ra một giải pháp “tâm phục khẩu phục” để thu được nhiều thuế hơn từ những “ông lớn” này.
Gần đây, một số nước phát triển như Anh, Úc, Israel, Pháp, Đức, Áo và các nước đang phát triển như Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan đã và đang đi đến một số giải pháp đặc thù, có thể là một tham khảo tốt cho Việt Nam.
Cách “né” thuế
Lấy trường hợp của Google làm ví dụ. Đây là một công ty của Mỹ, thành lập và có trụ sở ở Mỹ. Năm 2014, họ nộp 3,3 tỉ đô la Mỹ tiền thuế, chiếm khoảng 20% của lợi nhuận 17 tỉ đô la (với doanh thu 66 tỉ đô la) năm đó. Mức này thấp hơn nhiều so với mức thuế doanh nghiệp 35% ở Mỹ. Để làm được điều này, Google đã dùng các “chiêu” như nắm giữ, phân bổ phần lớn giá trị các tài sản sở hữu trí tuệ (được phát triển ở Mỹ) cho mảng kinh doanh ngoài Mỹ (đăng ký ở “thiên đường thuế” Bermuda) nhằm hợp pháp nhận các khoản phí bản quyền, thay vì chuyển về Mỹ - vốn sẽ làm tăng lợi nhuận tạo ra trên đất Mỹ và dẫn đến phải trả nhiều thuế hơn.

Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Google đặt trụ sở khu vực ở Singapore, nơi thuế doanh nghiệp là 17%, thuộc vào hàng thấp không chỉ trong khu vực mà còn trên thế giới. Google hạch toán doanh thu quảng cáo thu được từ nước khác, ví dụ Indonesia, vào pháp nhân của họ ở Singapore. Điều này đã dẫn đến cáo buộc của Indonesia, nơi mức thuế doanh nghiệp là 25%, rằng Google không trả đủ thuế trong suốt năm năm qua, dù Google biện hộ rằng pháp nhân của họ ở Indonesia không quản lý doanh thu quảng cáo.
Đa dạng phản ứng
Indonesia phản ứng bằng cách tiến hành khám xét văn phòng Google ở thủ đô Jakarta để thu thập dữ liệu về doanh thu quảng cáo của Google ở Indonesia. Hồi tháng 6 năm nay, Indonesia đã đạt được thỏa thuận với Google bằng một khoản tiền thuế nộp bổ sung không được công bố, nhưng được cho rằng thấp hơn mức 5.000 tỉ rupiah (khoảng 8.400 tỉ đồng) mà cơ quan thuế vụ nước này đòi Google phải trả bổ sung chỉ riêng cho năm 2015. Thỏa thuận này mở đường cho Indonesia yêu cầu Google và những công ty tương tự phải phân bổ một phần lớn hơn doanh thu và lợi nhuận của mình cho pháp nhân của họ ở Indonesia.
Ở Úc, luật chống tránh thuế quy định các công ty đa quốc gia với doanh thu toàn cầu hơn 1 tỉ đô la Mỹ và doanh thu ở Úc hơn 25 triệu đô la Mỹ phải chịu thuế suất 40% cho lợi nhuận, cao hơn mức thuế doanh nghiệp 30%.
Các nước khác lại chọn giải pháp đánh thuế trực tiếp lên các giao dịch tài chính. Hồi tháng 7 năm nay, Ấn Độ đánh thuế hàng hóa và dịch vụ thống nhất toàn quốc cho hàng ngàn sản phẩm từ dịch vụ gọi xe qua mạng đến thương mại điện tử. Tương tự, Thái Lan đang đề xuất đánh thuế tối đa 15% lên các giao dịch trực tuyến và phí quảng cáo trên các mạng xã hội như Facebook, Google, Line và các phần mềm ứng dụng gọi xe như Uber và Grab.
Các nước thuộc khối OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) đã đưa ra các đề xuất để tính toán và thực thi các loại thuế đánh lên các dịch vụ điện tử của các công ty công nghệ số, kể cả trong trường hợp chúng không có pháp nhân đại diện ở nước sở tại. Còn trong khối Cộng đồng chung châu Âu (EU), một số thành viên chủ chốt đã ủng hộ mạnh mẽ giải pháp đánh thuế trên doanh thu chứ không phải là lợi nhuận tạo ra từ các hoạt động của các công ty này ở nước sở tại (với thuế suất mà Pháp đề nghị là từ 2-5%).
Và ở Việt Nam...
Tại Việt Nam, tình hình thu thuế các công ty đa quốc gia cung cấp dịch vụ số đang có những tín hiệu trái chiều. Một mặt, theo giải trình của Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng trước Quốc hội hồi tháng 11 vừa rồi, thì “kinh doanh điện tử trên Google cũng đã thực hiện kê khai nhưng chưa thu được”. Mặt khác, ông Dũng cho biết Uber và Grab đã tự giác kê khai, nộp thuế; Tổng cục Thuế cũng đã tiến hành thanh tra, kiểm tra, trên cơ sở đó tăng thu của Uber và Grab lần lượt là 67 tỉ và 3 tỉ đồng(1).
Như là một phần của gói giải pháp nhằm thu được nhiều thuế hơn từ những công ty này, Bộ Tài chính đề xuất Ngân hàng Nhà nước yêu cầu việc thanh toán cho các dịch vụ quảng cáo trực tuyến được tiến hành thông qua Công ty cổ phần Thanh toán quốc gia (Napas). Đồng thời, bộ này cũng đề xuất các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet phải mở văn phòng đại diện tại Việt Nam và khai báo nộp thuế nhà thầu.
Tuy vậy, những giải pháp trên đã và sẽ vấp phải những trở ngại pháp lý. Chẳng hạn, giải pháp thực hiện thanh toán qua Napas có thể là hữu hiệu nhưng có người đã chỉ ra rằng vì Google hay Facebook chưa thành lập pháp nhân ở Việt Nam thì khó thuyết phục được họ thực hiện thanh toán qua Napas.
Còn với giải pháp buộc các công ty này mở văn phòng đại diện và khai báo nộp thuế nhà thầu thì cần lưu ý rằng trong những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chẳng hạn như TPP (nay được đổi thành CPTPP và đang đợi phê chuẩn) có điều khoản quy định rằng một nước thành viên TPP không được yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ của một nước thành viên khác phải thiết lập hoặc duy trì văn phòng đại diện hay bất kỳ hình thức doanh nghiệp nào, hoặc phải sinh sống, trên lãnh thổ của thành viên đó như một điều kiện để cung cấp dịch vụ xuyên biên giới.
Như vậy, với quy định này, Việt Nam chắc không thể buộc pháp nhân đại diện cho, ví dụ như Google ở Singapore, phải mở văn phòng đại diện hoặc lập pháp nhân khác ở Việt Nam như là một điều kiện để được cung cấp các dịch vụ số tại Việt Nam. Và cũng cần lưu ý thêm rằng nhiều nước vẫn đang (muốn) đánh thuế lên các công ty đa quốc gia này kể cả chúng không có pháp nhân đại diện ở nước sở tại, như đã nói ở trên.
Do đó, ngoài những giải pháp mà một số nước đã thực hiện nêu ở trên mà Việt Nam có thể tham khảo, một giải pháp khác Việt Nam có thể thực thi được là phối hợp song phương và đa phương với các quốc gia khác thực hiện các dự án chống chuyển lợi nhuận và làm xói mòn cơ sở thuế mà OECD và các nước thuộc nhóm G20 đang thực hiện, có sự tham gia của những nước trong khu vực như Singapore.
Theo đó, các công ty đa quốc gia sẽ phải chuẩn bị một báo cáo gồm các số liệu chủ chốt (doanh thu, lợi nhuận trước thuế, thuế đã trả và số lượng nhân viên) cho tất cả các nước tham gia mà chúng có hoạt động tạo doanh thu. Bản báo cáo này sẽ được cơ quan thuế vụ ở mỗi nước xem xét, đánh giá xem liệu họ đã thu được đủ thuế hay chưa, liệu có tình huống công ty tạo ra nhiều doanh thu và tuyển dụng nhiều nhân viên ở Ấn Độ nhưng lại nộp phần lớn thuế ở Hồng Kông/Singapore hay không?
Những sự phối hợp quốc tế như thế này sẽ buộc các công ty đa quốc gia phải tái cơ cấu lại hoạt động và phân bổ doanh thu và lợi nhuận tại các quốc gia khác nhau, trong đó có Việt Nam, nhằm phản ánh chính xác hơn tương quan giữa doanh thu và lợi nhuận của chúng tại các nước này.n
(1) http://vietbao.vn/Kinh-te/Bo-truong-Tai-chinh-noi-kho-thu-duoc-thue-Facebook-Google/62109117/87/

Sunday, 10 December 2017

Giảm biên chế, không thể không mạnh tay (Bài đăng trên TBKTSG, 10/12/2017)



http://www.thesaigontimes.vn/265987/Giam-bien-che-khong-the-khong-manh-tay.htmlGiảm biên chế, không thể không mạnh tay
Phan Minh Ngọc
Song hành cùng câu chuyện ngày càng nóng là bội chi ngân sách và nợ chính phủ tăng liên tục là chuyện “quyết liệt” cắt giảm biên chế để tránh cho ngân sách khỏi nguy cơ phá sản.
Tuy vậy, như một nghịch lý cho đến nay đã trở thành quá nhàm, càng “quyết liệt” cắt giảm biên chế bao nhiêu thì biên chế lại càng phình to thêm bấy nhiêu. Thực tế này một lần nữa được khắc họa rõ nét trong các báo cáo gần đây của Đảng và Chính phủ về tình hình đổi mới, sắp xếp lại bộ máy của hệ thống chính trị.
Một trong những lý lẽ hàng đầu thường được viện dẫn để biện minh cho sự phình to thay vì “xẹp” đi của bộ máy chính trị và hành chính ở Việt Nam là do tính chất (công việc) phức tạp, địa bàn, lĩnh vực quản lý rộng. Tuy vậy, lý lẽ này xem ra rất thiếu cơ sở, nếu chỉ cần so với những nước trong khu vực ở trên những tiêu chí đơn giản.
Chẳng hạn, trước tiên hãy so sánh về số lượng bộ có trong Chính phủ. Ở Nhật, nơi có dân số hơn 126 triệu người (nhiều hơn Việt Nam khoảng một phần ba) cư ngụ trên diện tích hơn 364.000 ki lô mét vuông (lớn hơn Việt Nam 13%), hiện chỉ có 11 bộ, trong khi Việt Nam có 18 bộ (chưa kể bốn cơ quan ngang bộ). Và mặc dù có dân số và diện tích đều lớn hơn đáng kể so với Việt Nam nhưng Nhật chỉ có 43 tỉnh và một “đô” - Tokyo, nhỏ hơn nhiều so với con số 63 tỉnh ở Việt Nam.
Ngay trong mỗi bộ, cơ cấu biên chế của Nhật cũng nhỏ gọn hơn rất nhiều so với của Việt Nam. Mỗi bộ của Nhật gồm có một bộ trưởng, không quá hai thứ trưởng và không quá ba trợ lý bộ trưởng. Điều này được quy định rõ trong Luật Tổ chức Chính phủ của Nhật nên ngay cả những bộ trọng yếu như Ngoại giao, con số định biên cũng không vượt quá những mức quy định này. Nếu lại phải so với Việt Nam thì chắc sẽ không ít người phải suy ngẫm.
Sẽ có ai đó cho rằng lấy Nhật làm ví dụ để so sánh với Việt Nam là khập khiễng vì trình độ phát triển quá chênh lệch. Nhưng chính trong các báo cáo gần đây của Việt Nam cũng có một số tiêu chí cho thấy bộ máy ở Việt Nam quá cồng kềnh nếu so với ngay cả những nước đang phát triển đông dân khác trong khu vực như Ấn Độ, Indonesia và Philippines(1).
Vì vậy, chuyện Việt Nam cần phải tinh gọn bộ máy cũng hiển nhiên như chuyện bộ máy của Việt Nam quá cồng kềnh. Nhìn sang Trung Quốc, nước này năm 1998 đã thông qua một kế hoạch cải tổ hành chính nhằm cắt giảm biên chế trong bộ máy quản lý nhà nước đến một nửa. Kế hoạch này được thực hiện trước hết từ việc giảm mạnh số bộ và cơ quan ngang bộ trong Chính phủ, từ 40 xuống còn 29 và theo đó, số lượng biên chế cũng bị cắt giảm tới gần một nửa. Ngoài việc “hạ cấp” một số bộ chuyên ngành (chủ yếu trong công nghiệp) thành các cục trực thuộc Ủy ban Kinh tế và Thương mại Nhà nước, một số bộ khác được sáp nhập (về chức năng quản lý nhà nước) thành các cục cũng đặt dưới sự quản lý của ủy ban này.
Mặc dù Việt Nam cũng đã, đang có chủ trương và động thái sáp nhập các cơ quan hành chính nhưng điều khác biệt lớn với Trung Quốc là quá trình sáp nhập ở Việt Nam không làm giảm (đáng kể) biên chế. Cán bộ sau sáp nhập vẫn tại vị hoặc được chuyển sang các cơ quan hưởng ngân sách nhà nước khác đã tồn tại hoặc được thành lập mới, nhất là các đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức đoàn thể, hiệp hội. Điều mà Trung Quốc đã thực hiện thành công trong đợt cải cách năm 1998 là đưa ra lộ trình cắt bao cấp ngân sách cho nhiều trong số những cơ quan này trong ba năm (với một số ngoại lệ nhỏ). Ví dụ, Hiệp hội Điện lực Trung Quốc được chuyển đổi từ một tổ chức hưởng ngân sách sang tổ chức phi chính phủ lấy ngân quỹ hoạt động từ những hội viên “có điều kiện”. Tương tự, nhiều viện nghiên cứu, ứng dụng cũng đã (buộc phải) tự đứng vững trên đôi chân của mình và cắt giảm mạnh số lượng nhân viên. Ngay cả Trung tâm Thông tin Nhà nước cũng phải tự tìm kiếm thu nhập để trang trải cho bộ máy và các hoạt động của mình.
Cải cách trong các cơ quan đảng, đoàn thể cũng diễn ra mạnh mẽ ở Trung Quốc, đặc biệt ở địa phương. Ví dụ, tỉnh Hồ Bắc đã xóa bỏ Hội nghị Hiệp thương chính trị ở cấp thị xã, thị trấn. Số lượng ủy viên đảng bộ giảm từ 15 người còn ba người bí thư đảng ủy kiêm luôn chủ tịch ủy ban nhân dân.
Kinh nghiệm cải tổ của Trung Quốc cho thấy điều không thể thiếu là quyết tâm lớn của từ người đứng đầu đảng, nhà nước đến cấp cơ sở, được đặt trước sức ép giảm biên hay... “vỡ nợ”. Những giải pháp mà nước này thực hiện như sáp nhập, hợp nhất; tư nhân hóa, cắt bỏ bao cấp ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp công lập, các hiệp hội, đoàn thể; nhất thể hóa các cơ quan đảng và chính quyền; đặt ra các giới hạn chặt chẽ về biên chế, số lượng cơ quan, đơn vị trực thuộc thụ hưởng ngân sách... là những giải pháp đã biết, đã bàn hoặc đã làm (thử nghiệm) ở Việt Nam. Điều thiếu và yếu ở Việt Nam là một quyết tâm, nghiêm túc và mạnh tay thực hiện, thay vì trù trừ, lo ngại về hậu quả kinh tế, xã hội.
(1) http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/1-vu-co-den-19-ham-vu-pho-413768.html

Thursday, 7 December 2017

Giảm thiểu tín dụng ngoại tệ (Bài đăng trên CafeF, 7/12/2017)

http://cafef.vn/hien-ke-lam-giam-thieu-tin-dung-ngoai-te-20171207165131209.chn

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã theo đuổi mục tiêu chống đô la hóa và giảm thiểu tín dụng bằng ngoại tệ từ nhiều năm nay với những giải pháp phần nhiều mang tính hành chính như thắt chặt đối tượng và điều kiện để được vay bằng ngoại tệ, giảm huy động tiết kiệm bằng ngoại tệ bằng việc hạ lãi suất tiết kiệm ngoại tệ, chuyển sang quan hệ mua – bán ngoại tệ mang tính thương mại đơn thuần…Nhưng kết quả trên thực tế vẫn còn khá hạn chế, thể hiện ở tín dụng ngoại tệ không giảm, thậm chí còn tăng mạnh hơn trong một số thời điểm. Ví dụ, theo ước tính của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, tín dụng ngoại tệ đến tháng 10 năm nay đã tăng 11,5% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm 2016 chỉ tăng 4,4%).
Thực tế trên cho thấy cần phải có thêm những giải pháp mang tính kinh tế lên cả hai phía ngân hàng thương mại (NHTM) và khách hàng vay vốn nhằm hạn chế tín dụng ngoại tệ.
Về phía NHTM, kết quả nghiên cứu thực chứng của một số nghiên cứu quốc tế cho thấy yếu tố làm tăng xu hướng cho vay bằng ngoại tệ của các NHTM trước tiên là khả năng huy động tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ từ khách hàng (chứ không phải là từ huy động từ thị trường bán buôn ngân hàng, gồm các tổ chức chính phủ, doanh nghiệp lớn và tổ chức tài chính, tín dụng khác). Phát hiện này cho thấy các chính sách vĩ mô đáng tin cậy có tác dụng khuyến khích khách hàng gửi tiết kiệm bằng nội tệ thay vì ngoại tệ đóng vai trò quan trọng trong việc chống đô la hóa, vay mượn bằng ngoại tệ.
Thành công trong công cuộc chống đô la hóa ở các nước Mỹ La tinh nhờ vào xây dựng các cơ chế vĩ mô khuyến khích vay mượn bằng nội tệ, gồm cơ chế tỷ giá linh hoạt và lạm phát mục tiêu, là một minh họa rõ nét cho tác động tích cực của các chính sách vĩ mô hướng đến giảm thiểu việc người dân gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ nhờ đó thu hẹp nạn đô la hóa tràn lan các nước này.
Ngược lại, nếu ngân hàng trung ương lựa chọn giải pháp mang tính hành chính là cấm hoặc thắt chặt quy chế cho vay bằng ngoại tệ thì việc này thậm chí có tác dụng ngược là làm giảm dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng ra nền kinh tế, ít nhất là trong ngắn hạn. Vì, với các NHTM lúc đó, đẩy mạnh cho vay bằng nội tệ không phải là giải pháp thay thế cho việc không được cho vay bằng ngoại tệ nữa. Các trường hợp ở Ukraine và Belarus, nơi các khoản cho vay bất động sản hoặc bán lẻ bằng ngoại tệ bị cấm, cho thấy tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng thực tế đã giảm mạnh sau khi việc cho vay bằng ngoại tệ này bị cấm.
Một giải pháp khác có thể làm các NHTM tự hạn chế cho vay ngoại tệ là ngân hàng trung ương yêu cầu các NHTM trích lập dự trữ bắt buộc không hưởng lãi cho các khoản huy động ngoại tệ hoặc tăng trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản tín dụng ngoại tệ của họ. Những giải pháp loại này sẽ làm tăng chi phí cho vay bằng ngoại tệ của các NHTM, buộc họ phải chào lãi suất cao hơn cho các khách hàng muốn vay bằng ngoại tệ, từ đó làm giảm tính hấp dẫn của các khoản vay bằng ngoại tệ một cách tương đối so với khoản vay bằng nội tệ.
Về phía khách hàng đi vay, việc NHNN thắt chặt các quy định mang tính hành chính về, ví dụ, đối tượng được vay ngoại tệ (chẳng hạn chỉ các doanh nghiệp xuất khẩu có doanh thu bằng ngoại tệ mới được vay bằng ngoại tệ) có kết quả hiển nhiên là hạn chế việc cho vay bằng ngoại tệ tràn lan cho cả đối tượng không thuộc diện ưu tiên, có doanh thu hoàn toàn bằng nội tệ (hoặc chỉ một phần bằng ngoại tệ). Tuy nhiên, do số lượng doanh nghiệp được phép vay vốn bằng ngoại tệ vẫn đáng kể nên sự thắt chặt này của NHNN không có tác dụng làm giảm lượng vốn vay bằng ngoại tệ nếu các doanh nghiệp này vẫn cứ “thích” và tăng cường vay bằng ngoại tệ một cách hợp pháp.

Các giải pháp hữu hiệu trong trường hợp này cũng sẽ là các giải pháp kinh tế, làm cho việc vay mượn của các doanh nghiệp này bằng ngoại tệ trở nên rủi ro hơn, tốn kém hơn, không còn quá hấp dẫn, có lợi hơn là vay bằng nội tệ.

Giải pháp thứ nhất là cần để tỷ giá thực biến động linh hoạt hơn (thay vì làm nó ổn định như hiện nay). Doanh nghiệp vay ngoại tệ thường với mặc định rằng tỷ giá nội tệ sẽ tăng lên (nội tệ yếu đi) trong tương lai. Vì doanh nghiệp xuất khẩu cần phải chuyển đổi một phần vốn vay ngoại tệ ra tiền đồng để thực hiện các giao dịch trong nước (trả lương, thanh toán hợp đồng với nhà cung cấp trong nước…) nên khi nội tệ yếu đi, rõ ràng doanh nghiệp vay vốn ngoại tệ sẽ được lợi.

Nhưng nếu tỷ giá nội tệ không chỉ có tăng lên một chiều mà nhiều lúc sẽ (được ngân hàng trung ương điều tiết) giảm đi khi, ví dụ, nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp chảy vào mạnh. Lúc này, doanh nghiệp vay vốn ngoại tệ tuy được lợi nhờ lãi suất vay thấp hơn so với khi vay bằng nội tệ nhưng họ lại bị thiệt vì thu được ít nội tệ hơn khi chuyển đổi khoản vay ngoại tệ này. Nói cách khác, khi tỷ giá biến động mạnh hơn theo hướng bất định, nó sẽ làm giảm tính hấp dẫn của việc vay vốn bằng ngoại tệ.

Một giải pháp khác làm giảm tính hấp dẫn của việc vay ngoại tệ là làm giảm biến động của lạm phát thông qua việc đặt ra lạm phát mục tiêu. Khi lạm phát và kỳ vọng lạm phát ổn định, ở mức thấp, chênh lệch lãi suất vay vốn nội tệ và ngoại tệ sẽ bị thu hẹp lại. Lạm phát và kỳ vọng lạm phát ổn định cũng làm tăng biến động của tỷ giá theo cả hai chiều chứ không chỉ có một chiều theo hướng tăng lên. Hai yếu tố này kết hợp với nhau càng làm giảm tính hấp dẫn của việc vay vốn bằng ngoại tệ so với bằng nội tệ.


Tóm lại, thay vì các biện pháp cấm đoán, hạn chế mang tính hành chính vốn chỉ có tác dụng hữu hạn, việc kết hợp tốt các giải pháp mang tính kinh tế áp dụng với cả NHTM và khách hàng được pháp vay ngoại tệ sẽ làm giảm thiểu một cách hữu hiệu tín dụng ngoại tệ trong nền kinh tế.

Saturday, 2 December 2017

Sửa quy định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng: Sửa rồi liệu có sửa nữa? (Bài đăng trên CafeF, 3/12/2017)

http://cafef.vn/sua-quy-dinh-ve-quan-ly-hoat-dong-kinh-doanh-vang-sua-roi-lieu-co-sua-nua-20171203090211283.chn

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Dự thảo có một số nội dung chính đáng quan tâm, cần được xem xét kỹ thêm trước khi thông qua.

Sẽ phản ứng như thế nào?

Theo giải thích của NHNN, hiện nay, thị trường vàng đã có chuyển biến tích cực, vàng miếng không còn hấp dẫn như trước, doanh số giao dịch mua, bán vàng miếng của toàn hệ thống giảm, sức mua vàng trong dân tiếp tục giảm. Với diễn biến tương đối thuận lợi này, việc giảm thiểu các quy định về hồ sơ, thủ tục điều chỉnh Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng là hợp lý nhằm giảm chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp, xã hội, thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

Như vậy, có thể hiểu rằng một trong những lý do chính để NHNN sửa đổi Nghị định trên theo hướng nới lỏng điều kiện kinh doanh vàng là do vàng miếng không còn “nóng”, lên cơn sốt như trước đây nữa. Nếu đúng vậy, nếu sau này thị trường vàng miếng (thường xuyên) lên cơn nóng sốt, NHNN sẽ phải một lần nữa sửa đổi Nghị định sửa đổi (hiện đang là dự thảo) để dập cơn sốt vàng?

Nếu câu trả lời cho câu hỏi trên là đúng, thì có nghĩa là NHNN sẽ “lội ngược dòng”, làm tăng chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp, cho xã hội, và cũng không phù hợp với tinh thần kiến tạo của Chính phủ hiện nay. Sở dĩ nói các chi phí mà NHNN tạo thêm ra cho việc kinh doanh vàng là chi phí không cần thiết bởi chính NHNN tự thấy các điều kiện kinh doanh vàng trong Nghị định 24 là không cần thiết như nêu trên nên mới phải soạn dự thảo để bãi bỏ, sửa đổi theo hướng đơn giản hóa.

Nếu câu trả lời là không, điều này có thể được hiểu rằng NHNN đã có thái độ khá “cởi mở” với kinh doanh vàng (miếng), hầu như coi vàng cũng chỉ như là một loại hàng hóa khác, không cần phải có (nhiều) điều kiện kinh doanh đặc thù gây khó dễ như trước đây.

Vì vàng vẫn là một loại hàng hóa (đặc biệt), chịu sự chi phối của quy luật cung-cầu có sự liên thông chặt chẽ với thị trường thế giới nên trong tương lai không thể thể tránh khỏi khả năng sẽ xuất hiện lại những cơn sốt nóng của thị trường vàng trong nước. Lúc đó, NHNN chọn lựa phản ứng nào trong hai phản ứng nói trên cũng đều là lựa chọn khó khăn cho chính cơ quan này. Nếu thắt chặt thì, như đã nói, sẽ làm “tổn thương” hình ảnh của NHNN. Nếu NHNN không thắt chặt, họ sẽ phải giải trình thế nào với công luận về những tác động tiêu cực của những cơn sốt vàng lên nền kinh tế như họ đã chỉ ra trước đây để lấy đó làm cơ sở cho ra đời Nghị định 24?

Thêm khó khăn cho kinh doanh vàng trang sức

Theo dự thảo, Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) sẽ phải quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ không chỉ trong lưu thông như Nghị định 24 mà còn trong cả hoạt động sản xuất, nhập khẩu. Như vậy, có thể hình dung doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu vàng nguyên liệu và thành phẩm, bán thành phẩm từ nay sẽ phải thực hiện các yêu cầu, quy định của và “đón tiếp” thêm các đoàn thanh, kiểm tra từ Bộ KHCN. Nói cách khác, việc sản xuất kinh doanh của họ sẽ có thêm nhiều trở ngại, khó khăn hơn.

Bên cạnh đó, tính hợp lý của việc quy định Bộ KHCN quản lý chất lượng vàng trang sức ít nhất là trong sản xuất và nhập khẩu cũng là một điều chưa rõ ràng. Dù có thể lập luận rằng việc quản lý này là để, ví dụ, tránh gian lận tuổi vàng, trọng lượng vàng, gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Nhưng chẳng lẽ mỗi lần doanh nghiệp nhập vàng nguyên liệu, vàng trang sức thành phẩm, bán thành phẩm, hoặc sản xuất một lô sản phẩm mới họ phải mang mẫu đến cho Bộ KHCN kiểm tra, xác nhận đúng như đơn đặt hàng, chứng nhận của nhà xuất khẩu, và đồng thời phải phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam thì mới được thông quan, mới được lưu thông, tiêu thụ hay sao? Hơn nữa, nếu lo ngại quyền lợi người tiêu dùng bị ảnh hưởng, thì chỉ cần quản lý ở khâu lưu thông, bán hàng đã là quá đủ (thậm chí là quá sức), chứ chưa cần phải truy đến gốc từ nhập khẩu và sản xuất.

Chặn đường doanh nghiệp mới

Dự thảo cũng quy định đối với hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng của doanh nghiệp cần thêm xác nhận của cơ quan thuế về số thuế đã nộp của hoạt động kinh doanh vàng trong 2 năm liền kề trước đó và báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 2 năm liền kề trước đó.

Với quy định như trên, các doanh nghiệp mới thành lập để kinh doanh, mua bán vàng miếng hoặc doanh nghiệp chuyển đổi chức năng và phạm vi hoạt động (sang kinh doanh, mua bán vàng miếng) sẽ bị loại trừ khỏi lĩnh vực này vì không có hoạt động tương ứng trước đó. Nói cách khác, sẽ chỉ còn những doanh nghiệp đang kinh doanh, mua bán vàng miếng (đã tồn tại trong lĩnh vực này ít nhất 2 năm) mới được (tiếp tục) mua bán, kinh doanh vàng miếng. Tức là thị trường vẫn tiếp tục bị chi phối, bóp méo bởi một số ít doanh nghiệp hiện hữu.

Ngoài ra, không rõ mục đích của việc quy định phải có xác nhận nộp thuế và báo cáo tài chính đã kiểm toán để làm gì, nhưng quy định như trên còn thêm điều không rõ ràng, dễ là cái cớ để làm khó doanh nghiệp. Cụ thể là nộp thuế (thuế gì?) phải đến mức tối thiểu là bao nhiêu, kết quả kinh doanh trong báo cáo tài chính phải tốt đến đâu thì mới đáp ứng được yêu cầu để được cấp phép? Liệu doanh nghiệp luôn bị lỗ trong (ít nhất) 2 năm trước có được cấp phép?

Friday, 1 December 2017

Quan trọng là minh bạch về mục đích (Bài đăng trên TBKTSG, 2/12/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/td/265637/Quan-trong-la-minh-bach-ve-muc-dich.html

Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua có bổ sung điều khoản mới, theo đó quy định các lãnh đạo cấp cao ban quản trị hoặc ban điều hành của tổ chức tín dụng (TCTD) không được kiêm nhiệm, không đồng thời là lãnh đạo của các doanh nghiệp khác bên ngoài TCTD. Mục đích của việc cấm này được cho là nhằm đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong hoạt động tín dụng của TCTD.

Quy định của các nước thoáng hơn

Đối chiếu quy định trên với thông lệ thế giới có thể thấy một số khác biệt. Ví dụ, ở Singapore, nhiều ngân hàng cũng quy định rõ trong bộ quy tắc ứng xử của mình là cấm nhân viên ngân hàng được làm thêm việc bên ngoài (outside employment), dù công việc này có được trả lương hoặc thù lao hay không. Nhưng việc cấm đoán này chỉ áp dụng cho một số loại hình công việc bên ngoài cụ thể như tư vấn, giám đốc (kể cả công ty riêng) hoặc các công việc mang tính thương mại bán thời gian hay toàn thời gian.

Ngoài danh sách cấm này, ngân hàng có thể cho phép nhân viên làm thêm một số công việc bên ngoài như là thành viên các hiệp hội, tổ chức phi lợi nhuận, không có hoạt động tạo ra xung đột quyền lợi với ngân hàng...

Ở nhiều nước, nhiều ngân hàng trên thế giới khác, ví dụ như Bank of New York Mellon Corporation hay JPMorgan Chase & Co, lại quy định thoáng hơn về chuyện này. Cụ thể, nhân viên của các ngân hàng này không bị cấm làm việc bên ngoài, miễn là công việc đó không liên quan gì đến, tạo tác động xấu, hoặc gây xung đột quyền lợi với ngân hàng và/hoặc với công việc của người này tại ngân hàng. Đồng thời, công việc bên ngoài này cũng không được ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thể chất và tinh thần của nhân viên, làm giảm khả năng làm việc hàng ngày của nhân viên này tại ngân hàng.


Có một điều chung giữa các ngân hàng trên thế giới là nhân viên phải báo cáo trước và xin phép ngân hàng khi có ý định làm việc bên ngoài. Nếu không làm như vậy và khi ngân hàng phát hiện ra thì thường là nhân viên sẽ bị sa thải lập tức. Dẫu vậy, kể cả khi đã báo cáo, xin phép, vẫn có những trường hợp đơn xin phép của nhân viên bị từ chối vì ngân hàng nhận định rằng công việc sẽ làm của nhân viên này có khả năng gây tác động bất lợi cho ngân hàng và/hoặc cho công việc của nhân viên tại ngân hàng.

Như vậy, có thể nói rằng quy định cấm kiêm nhiệm trong Luật các TCTD sửa đổi nói trên ở Việt Nam là quá chặt, cấm tuyệt đối mọi hình thức làm việc của lãnh đạo cấp cao ngân hàng (cũng là một nhân viên ngân hàng) cho một tổ chức, doanh nghiệp bên ngoài mà không có bất cứ một trường hợp ngoại lệ, loại trừ nào mà như ở nước khác thì là được phép.

Quan trọng là minh bạch về mục đích

Có người sẽ lập luận rằng cấm như ở Việt Nam là cần thiết, còn hơn là không cấm, không làm gì. Nhưng tư duy theo lối “không quản được thì cấm” này thì cũng chẳng khác lối tư duy vì dao nhọn có thể được sử dụng thành vũ khí gây nguy hiểm nên cần cấm cầm hoặc sử dụng dao nhọn (khi ra đường).

Điều quan trọng ở đây là minh bạch về mục đích. Với trường hợp cầm hoặc sử dụng dao nhọn, sẽ là được phép nếu người cầm/sử dụng có mục đích chính đáng, chẳng hạn như đang bán hoa quả rong trên đường. Với trường hợp lãnh đạo ngân hàng làm lãnh đạo một công ty, tổ chức khác, nếu việc kiêm nhiệm này được công khai, được chứng minh là không gây phương hại gì đến ngân hàng, tạo xung đột quyền lợi giữa ngân hàng với lãnh đạo này và với công ty bên ngoài, mà ngược lại, còn có ích, đóng góp cho xã hội, thì rõ ràng việc kiêm nhiệm này là vô hại, có thể được phép, được chấp nhận.

Ngược lại, sẽ là một vi phạm nghiêm trọng, cần xử lý bởi không chỉ trong nội bộ ngân hàng mà còn bởi cơ quan thanh tra, giám sát khi sự kiêm nhiệm này bị che giấu, không khai báo hoặc khai báo không trung thực bởi lãnh đạo ngân hàng kiêm nhiệm.

Và cũng sẽ có ý kiến rằng khi lãnh đạo ngân hàng muốn kiêm nhiệm một vị trí lãnh đạo tại một công ty bên ngoài thì dù có phải xin phép ngân hàng, việc xin phép này cũng chỉ là hình thức bởi rốt cuộc người cấp phép lại chính là lãnh đạo này hoặc cấp dưới của vị này.
Đây cũng là một khả năng có thật, nhưng điều quan trọng là việc xin phép này để lại những bằng chứng để bộ phận chức năng nội bộ ngân hàng (như kiểm toán nội bộ, ban giám sát) hay cơ quan chức năng nhà nước có cơ sở để thanh tra, giám sát, ngăn ngừa, tránh phát sinh những cơ hội trục lợi và xử lý sự trục lợi từ sự kiêm nhiệm của lãnh đạo ngân hàng.

Cũng cần lưu ý rằng ở các ngân hàng nước ngoài, các bộ phận chức năng như kiểm toán nội bộ và ban giám sát có quyền lực rất lớn và không một ai kể cả ban lãnh đạo ngân hàng được phép ngoại trừ, không phải thực hiện những quy định tuân thủ mà bộ phận chức năng này đề ra và/hoặc thực thi như với những nhân viên bình thường khác.

Sau cùng, cần lưu ý thêm rằng cả hai hình thức liên quan đến chuyện kiêm nhiệm công việc bên ngoài nêu trên - cấm hoàn toàn hoặc cho phép kiêm nhiệm một cách có điều kiện - đều không giải quyết triệt để được chuyện xung đột lợi ích. Bởi xung đột lợi ích nhiều khi lại nảy sinh từ sở hữu chéo, với những ông chủ giấu mặt đại diện bởi các “hình nhân” chi phối hoạt động của ngân hàng theo hướng có lợi cho mình hoặc doanh nghiệp sân sau của mình.

Nói cách khác, chừng nào còn sở hữu chéo thì chừng đó việc cấm kiêm nhiệm cũng không đảm bảo được tính khách quan, minh bạch trong hoạt động của hệ thống ngân hàng. 

Monday, 27 November 2017

Có nên cho vay đặc biệt với lãi suất 0%? (Bài đăng trên CafeF, 27/11/2017)

http://cafef.vn/co-nen-cho-vay-dac-biet-voi-lai-suat-0-20171125185311369.chn

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang dự thảo thông tư quy định về cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt. Theo đó, NHNN cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng (TCTD) được kiểm soát đặc biệt trong một số trường hợp với các mục đích như: (1) hỗ trợ thanh khoản khi tổ chức tín dụng có nguy cơ, hoặc lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, (2) hỗ trợ phục hồi theo phương án phục hồi đã được phê duyệt; và (3) hỗ trợ phục hồi theo phương án chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt.

Lãi suất ưu đãi hay lãi suất tái cấp vốn?

Một điểm đáng chú ý trong dự thảo này là với các mục đích (2) và (3) nói trên, lãi suất ưu đãi cho khoản vay đặc biệt từ NHNN có thể đến mức 0% thay vì là lãi suất tái cấp vốn do NHNN công bố trong từng thời kỳ như với mục đích (1) nói trên. Lãi suất ưu đãi đến mức 0% này cũng sẽ được áp dụng với các khoản vay đặc biệt từ Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam với một số đối tượng cụ thể theo phương án phục hồi đã được phê duyệt.

Đối chiếu với 5 phương án cơ cấu lại các TCTD được kiểm soát đặc biệt được quy định trong Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua, gồm: (1) phục hồi, (2) sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng cổ phần, (3) giải thể, (4) chuyển giao bắt buộc, và (5) phá sản. Nếu “phương án phục hồi” và “phương án chuyển giao bắt buộc” nêu trong dự thảo thông tư trên cũng chính là những phương án cơ cấu lại tương ứng nêu trong Luật các TCTD sửa đổi thì có thể suy ra rằng lãi suất áp dụng cho khoản vay đặc biệt, nếu có, với 3 phương án cơ cấu lại còn lại, gồm phương án (2), (4), và (5), sẽ là lãi suất tái cấp vốn của NHNN áp dụng cho mục đích hỗ trợ thanh khoản. Trong trường hợp này, dự thảo thông tư cần quy định rõ như vậy để tránh gây hiểu lầm, tùy tiện lý giải và vận dụng trong thực tế.

Nếu lãi suất cho vay đặc biết các TCTD trong 3 phương án cơ cấu còn lại không phải là lãi suất tái cấp vốn, mà cũng không phải là lãi suất ưu đãi (đến mức 0%) thì có nghĩa là NHNN sẽ không cho vay đặc biệt cho mục đích cơ cấu lại theo 3 phương án này. Nhưng như vậy thì lại đồng nghĩa với việc NHNN sẽ không làm gì khi TCTD đang thực hiện 3 phương án cơ cấu lại này có nguy cơ hoặc lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả. Vì khả năng NHNN không làm gì là khả năng khó xảy ra nên NHNN có thể sẽ phải cho vay đặc biệt trong trường hợp này. Như vậy thì lãi suất cho vay đặc biệt sẽ là như thế nào, được quy định ra sao v.v… cần được bổ sung cụ thể trong dự thảo.

Lãi suất tái cấp vốn đã là quá ưu đãi

Chuyển sang vấn đề quan trọng hơn, NHNN có nên cho vay đặc biệt với lãi suất thấp hơn lãi suất tái cấp vốn hoặc thậm chí đến 0% như dự thảo quy định? Câu trả lời là không nên.
Trước hết, NHNN cho vay (tái cấp vốn) các TCTD đã là một hành động mang tính cứu trợ, giúp đỡ. Khi đã phải vay tái cấp vốn từ NHNN có nghĩa là các TCTD hầu như không còn “bấu víu” được vào đâu để có đủ thanh khoản cho hoạt động bình thường của mình.

Bản thân lãi suất tái cấp vốn cũng đã là lãi suất ưu đãi vì thấp hơn nhiều so với lãi suất đi vay, huy động trên thị trường vốn, thị trường liên ngân hàng hay từ dân chúng. Bởi vậy, khi NHNN đồng ý cho vay tái cấp vốn có nghĩa là NHNN tự nguyện gánh lấy (một phần) rủi ro thay cho TCTD và TCTD thì đương nhiên được hưởng thêm lợi ích nữa là được rót vốn với lãi suất ưu đãi thấp hơn thị trường.

Nhưng hậu quả gì sẽ xảy ra nếu, căn cứ theo quy định như trong Luật các TCTD sửa đổi và dự thảo thông tư, NHNN vẫn cứ quyết định cho TCTD có vấn đề vay với lãi suất thấp hơn cả lãi suất tái cấp vốn, thậm chí với lãi suất 0%?

Như trên đã phân tích, 2 phương án cơ cấu lại được hưởng lãi suất ưu đãi có thể đến 0% là phương án phục hồi và phương án chuyển giao bắt buộc. Giả sử sau khi được vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi, TCTD thực hiện cơ cấu lại theo 2 phương án này thành công.
Với trường hợp của phương án phục hồi, TCTD quay trở lại hoạt động bình thường, với cơ cấu cổ đông có thể giữ nguyên hoặc không thay đổi đáng kể. Điều này có nghĩa là khoản cho vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi của NHNN đã làm lợi cho TCTD này nói chung và cho các cổ đông hiện hữu của nó nói riêng mà nhà nước không thu được lợi ích gì ngoài lợi ích khá mơ hồ, khó định lượng được là “sự ổn định” của hệ thống ngân hàng, tài chính quốc gia.

Tương tự như vậy, với phương án chuyển giao bắt buộc, người hưởng lợi từ “nguồn lực” nhà nước là các chủ đầu tư, sở hữu mới của TCTD mà không phải là nhà nước.
Ngược lại, khi 2 phương án cơ cấu lại trên đây không thành công thì đương nhiên là NHNN sẽ phải đối mặt với rủi ro là không thu hồi được khoản cho vay đặc biệt, dù theo dự thảo thông tư thì khoản cho vay đặc biệt này được ưu tiên giải quyết trước tất cả các khoản nợ khác.

Bởi vậy, để đảm bảo công bằng, theo cơ chế thị trường, NHNN không nên quy định và thực hiện cho vay đặc biệt với lãi suất đến mức 0%, dù có thể Luật các TCTD sửa đổi cho phép lãi suất có thể đến mức 0%. Khi đã cho vay đặc biệt thì tốt nhất là nên thống nhất mức lãi suất trong mọi trường hợp bằng với lãi suất tái cấp vốn.

Thursday, 23 November 2017

Nợ xấu giảm chưa thực chất (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 23/11/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/td/265264/No-xau-giam-chua-thuc-chat.html

Trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Lê Minh Hưng cho biết tổng số nợ tiềm ẩn có thể thành nợ xấu, nợ xấu nội bảng và nợ xấu đã bán cho VAMC chưa xử lý được của toàn hệ thống tính đến cuối tháng 9/2017 là 566 nghìn tỷ đồng, giảm so với mức 600 nghìn tỷ đồng tại thời điểm cuối năm 2016. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 9/2017 là 8,61%, cũng giảm so với mức 10,08% hồi cuối năm 2016.
Phân tích thêm thông tin ngắn gọn trên cho thấy một số điểm đáng chú ý về tình hình nợ xấu và xử lý nợ xấu trong thời gian qua.
Thứ nhất, nếu so tổng số nợ xấu mà Thống đốc Hưng báo cáo ở trên với con số tương tự được nguyên Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình “tiết lộ” vào tháng 9/2014 là khoảng 500.000 tỷ đồng thì sẽ thấy rằng thực tế tổng nợ xấu đã tăng lên mạnh (20%) ít nhất là cho đến thời điểm tháng 12/2016, trước khi giảm đi trong năm 2017.[1]
Ở đây có hai khả năng. Khả năng đầu tiên là ông Bình đã “tiết lộ” nhưng không chính xác, đầy đủ con số nợ xấu thực tế phát sinh và tích tụ trong hệ thống ngân hàng dưới thời của ông. Khả năng này không thể hoàn toàn phủ nhận nếu nhớ lại rằng NHNN lúc đó đã có sự bất nhất về con số nợ xấu, và đã từng phải cải chính bằng những con số nợ xấu cao hơn nhiều cho những thời điểm trước đó (xem, ví dụ, [2] và [3]).
Nếu khả năng trên là không đúng thì chỉ còn lại khả năng là công cuộc xử lý nợ xấu ít nhất là từ các năm 2012 cho đến 2016 đã không thành công, nếu không muốn nói ngược lại, với nợ xấu thực chất đã tăng lên mạnh thay vì giảm đi như kỳ vọng.
Điểm đáng chú ý thứ hai về những con số do Thống đốc Hưng báo cáo là mặc dù tổng nợ xấu đã giảm đi trong năm nay (tính đến tháng 9), nhưng giá trị nợ xấu nội bảng lại tăng lên, như được trình bày trong bảng dưới đây. Cụ thể hơn, nợ xấu nội bảng đã tăng 5% so với thời điểm tháng 12/2016, từ 146.429 tỷ đồng lên 153.826 tỷ đồng.
Có thể sẽ có người giải thích rằng nợ xấu nội bảng tăng lên một phần là do tín dụng (tổng dư nợ) cũng đã tăng trưởng mạnh (10,44%) làm phát sinh nợ xấu nội bảng mới. Nhưng dù vậy, tốc độ tăng nợ xấu nội bảng, bằng phân nửa tốc độ tăng trưởng tín dụng, cũng vẫn cho thấy một sự quá bất thường. Điều này lại cho thấy hai khả năng. Khả năng thứ nhất là tăng trưởng tín dụng đã phải trả bằng cái giá quá đắt là làm tăng mạnh nợ xấu (nội bảng), nên cần phải đặt câu hỏi nghiêm túc là liệu có nên cố gắng thúc đẩy và/hoặc duy trì tăng trưởng tín dụng cao như hiện nay hay không.
Khả năng thứ hai liên quan đến sự tăng lên của nợ xấu nội bảng là, ngoài sự “góp mặt” của khả năng thứ nhất, nợ xấu nội bảng còn tăng bởi thực tế là đã có một phần dư nợ trước đây lẽ ra đã phải bị phân loại là nợ xấu thì lại được che giấu, phân loại thành nợ bình thường, đến nay mới bộc lộ (không thể che giấu được nữa). Và điều rút ra được từ khả năng này đương nhiên sẽ là muốn xử lý nợ xấu thành công thì trước hết phải trung thực, minh bạch, không vì bệnh thành tích hay động cơ chính trị nào đó để cho ra những con số đẹp đẽ không có thực.
Một điểm đáng chú ý nữa trong bảng dưới đây là mức giảm mạnh của nợ xấu tiềm ẩn (chủ yếu là các cam kết bảo lãnh vay vốn, cam kết trong nghiệp vụ L/C và các cam kết bảo lãnh khác), giảm tới 25.397 tỷ đồng so với cuối năm 2016 và chiếm tỷ trọng lớn trong con số 34.000 tỷ đồng là mức cải thiện (giảm đi) của nợ xấu tính đến tháng 9/2017 so với cuối năm 2016 (=600.000 tỷ - 566.000 tỷ). Mức giảm này thậm chí còn lớn hơn nhiều khoản nợ xấu được VAMC xử lý trong năm nay (16.000 tỷ).
Căn cứ vào quá trình chật vật xử lý nợ xấu suốt nhiều năm qua cũng như thực tế là cho đến nay chưa bao giờ NHNN công bố diễn biến của cấu thành này trong bức tranh nợ xấu ở Việt Nam nếu nó thực sự có đóng góp tích cực vào cải thiện nợ xấu như vậy, có thể suy ra một cách không hề thiếu thận trọng rằng mức giảm của nợ xấu tiềm ẩn, nếu có, không thể lớn đến mức độ như vậy. Nói cách khác, vẫn có một sự không rõ ràng, chính xác về con số tổng nợ xấu mới được NHNN báo cáo.
Tóm lại, đằng sau những con số tỷ lệ nợ xấu “đẹp” mà NHNN báo cáo là một thực tế có thể khác nhiều và chứa đựng nhiều điều đáng suy ngẫm và đòi hỏi những hành động cần thiết tương ứng của các bên có liên quan.



[1] http://www.thesaigontimes.vn/120664/Thong-doc-NHNN-thua-nhan-no-xau-len-den-500000-ti-dong.html
[2] http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/tien-te-bao-hiem/2014-02-21/nhnn-phan-hoi-ve-so-lieu-no-xau-cua-moody%E2%80%99s-7875.aspx
[3] http://soha.vn/20-phut-dang-dan-cua-thong-doc-nhieu-so-lieu-ve-no-xau-va-vi-pham-ngan-hang-duoc-cong-bo-20170607142605095.htm

Monday, 20 November 2017

Đề xuất xóa nợ thuế còn nhiều bất hợp lý! (Bài đăng trên TBKTSG, 20/11/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/264912/De-xuat-xoa-no-thue-con-nhieu-bat-hop-ly.html

Bộ Tài chính đã đề xuất sửa đổi quy định về xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt trong dự thảo tờ trình Chính phủ về việc xây dựng Luật Quản lý thuế sửa đổi cho một số trường hợp cụ thể.

Điều có thể nói trước tiên về đề xuất này là sự “khác người” của nó. Chuyện xóa nợ thuế, nếu có, không phải là phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Có chăng, và rất phổ biến, là chuyện miễn, giảm các khoản phí phạt và tiền lãi phát sinh do nộp thuế chậm hoặc khai gian thuế, trong một số trường hợp, hoàn cảnh cụ thể (còn khoản thuế gốc thì vẫn cứ phải trả). Bởi vậy, ở Việt Nam, việc xóa nợ thuế (gốc) dường như đang đi ngược xu hướng chung.

Quan trọng hơn, không phải mọi trường hợp và điều kiện nêu ra để xóa nợ thuế đều là hợp lý, chính đáng.

Ngừng kinh doanh, giải thể không phải là lý do để xóa nợ thuế

Theo tờ trình, nhiều người nộp thuế kinh doanh thua lỗ trong giai đoạn kinh tế đi xuống từ năm 2007 -2012, đã ngừng kinh doanh, giải thể, nên không có khả năng thu hồi trong khi cơ quan thuế vẫn phải phân bổ nguồn lực thực hiện. Do đó các đối tượng này cần được xóa nợ.

Chuyện ngừng kinh doanh, giải thể không phải là cái cớ hay điều kiện hợp lý để xóa nợ (hoàn toàn) thuế. Khi đã phát sinh nghĩa vụ thuế có nghĩa là con nợ có thu nhập, có các hoạt động chịu thuế và có nghĩa vụ phải nộp đúng hạn các khoản thuế tương ứng. Đóng cửa, ngừng kinh doanh, giải thể là chuyện xảy ra sau này và, quan trọng hơn, cũng không liên quan gì đến thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Người nộp thuế luôn phải có trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ tiền nộp thuế khi đến hạn, chứ không thể nại lý do (hiện tại) không có tiền để trả thuế.

Tương tự, cơ quan thuế cũng không (được quyền) tự động xóa nợ thuế cho những con nợ này sau một thời gian nhất định không đòi được nợ, chẳng hạn là năm năm. Dù có thể không thu được thuế từ những con nợ này, nhưng cơ quan thuế trước hết cần tiến hành tất cả các biện pháp cưỡng chế được pháp luật cho phép, gồm cả việc chuyển cơ quan chức năng truy tố tội trốn, không nộp thuế (nhờ thế có thể buộc con nợ phải “xoay” tiền ở đâu đó để nộp thuế nếu không muốn đi tù). Chừng nào chưa thực hiện tất cả những biện pháp này để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật thì chừng đó cơ quan thuế chưa có cơ sở để kết luận rằng khoản nợ thuế này “không có khả năng thu hồi”, và vì thế chưa thể xóa nợ (gốc) được.

Việc cơ quan thuế phải tiếp tục bố trí nguồn lực thực hiện (việc thu thuế) trong các trường hợp này còn là một biện pháp “nhắc nhở” tinh thần trách nhiệm của cơ quan thuế khi đã để xảy ra nợ đọng thuế quá lâu, tránh tình trạng do thông đồng với con nợ hoặc vô trách nhiệm của cán bộ thuế để nợ đọng thuế kéo dài, cuối cùng được hưởng “ưu đãi” xóa nợ!

Cũng vì khả năng này nên Luật Quản lý thuế sửa đổi cần đưa thêm điều khoản xem xét trách nhiệm của cơ quan thuế khi để xảy ra tình trạng nợ đọng thuế kéo dài với những lý do như ngừng kinh doanh, giải thể.

Chuyển hình thức sở hữu vẫn phải nộp thuế đầy đủ

Cũng theo dự thảo tờ trình, trong số nợ thuế còn có một phần không nhỏ là tiền phạt chậm nộp của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã cổ phần hóa, do khi bàn giao tài chính giữa DNNN cho công ty cổ phần thì chỉ bàn giao tiền thuế nợ mà không bàn giao tiền chậm nộp phát sinh tương ứng. Do vậy, để góp phần giảm nợ cho ngân sách nhà nước, giảm nguồn lực, chi phí theo dõi nợ thuế thì cần bổ sung quy định là không tính (phí) chậm nộp trên số tiền thuế phát sinh của DNNN đã bàn giao cho công ty cổ phần khi thực hiện chuyển đổi cổ phần hóa trước ngày 1-7-2007.

Có thể Bộ Tài chính cho rằng  doanh nghiệp sau cổ phần hóa vẫn có cổ phần của nhà nước nên nếu tính phí chậm nộp thuế thì ngân sách nhà nước sẽ phải bỏ tiền ra trả, hoặc nếu không trả được thì phải nợ treo đó, và trường hợp nào thì cũng làm tăng nợ, tăng gánh nặng ngân sách nhà nước. Nếu đúng vậy thì lập luận này không thuyết phục. Nếu xóa nợ thuế thì tự nhiên nhà nước xóa nợ cho cả các ông chủ tư nhân mới của công ty cổ phần.
Trên hết, ngay bản thân DNNN cũng phải nộp thuế và phí (để rồi có thể được nhà nước điều tiết, phân bổ lại), đảm bảo bình đẳng với mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần khác thì không có lý gì doanh nghiệp cổ phần lại được xóa nợ phí chậm nộp thuế.

Tránh tiền lệ xấu

Dự thảo cũng đề xuất xóa nợ với nhóm các doanh nghiệp như Liên minh hợp tác xã, tỉnh ủy, thành đoàn, tỉnh đoàn... đã được đơn vị chủ quản ra quyết định giải thể nhưng còn nợ thuế mà cơ quan chức năng không còn có thông tin về các doanh nghiệp này.

Tương tự, các doanh nghiệp được sở kế hoạch và đầu tư cho phép giải thể và bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trước khi cơ quan thuế thực hiện các biện pháp cưỡng chế, và tình trạng đã kéo dài nhiều năm... cũng được đề xuất cho xóa nợ thuế.

Đề xuất này thoạt nghe cũng hợp lý vì không còn ai để “nắm tóc”. Tuy nhiên, điều cần tuyệt đối tránh là tạo tiền lệ xấu cho các vụ việc tương tự về sau. Nếu được luật hóa, về sau này, các tổ chức, đoàn thể sẽ lại tiếp tục dựng nên và tùy tiện cho các doanh nghiệp giải thể mà không thực hiện các nghĩa vụ thuế phát sinh. Và cũng như vậy, chính quyền địa phương sẽ tiếp tục tùy tiện cho giải thể và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh các doanh nghiệp họ quản lý mà không trải qua các bước và thủ tục cần thiết, trong đó có giải quyết các nghĩa vụ thuế với nhà nước trước khi chấm dứt hoạt động.

Tóm lại, trong mấy lý do được đưa ra để giải trình cho việc xóa nợ thuế, có lẽ chỉ có lý do cuối cùng - xóa nợ thuế cho người đã chết hoặc mất tích, dù có tài sản hay không - là có thể chấp nhận được để đưa vào luật sửa đổi.

Friday, 10 November 2017

So sức khỏe DNNN qua ba năm (Bài đăng trên TBKTSG, 10/11/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/166394/So-suc-khoe-DNNN-qua-ba-nam.html

Tháng 10-2017, Chính phủ đã trình Quốc hội báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2016. Báo cáo này và các báo cáo tương tự trong các năm trước cho thấy một số thực tế đáng chú ý về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong thời gian qua.

Bệnh “nhờn” luật trầm trọng

Một điểm chắc rất ít người để ý nhưng khá quan trọng đó là sự coi thường luật pháp của một số DNNN và các cơ quan chủ quản của các doanh nghiệp này, có thể gọi thẳng là như vậy.

Trong báo cáo năm 2016, số lượng DNNN mà Chính phủ thu thập được số liệu để làm báo cáo là 492. Con số này nhỏ hơn các năm trước. Ngoài lý do là một số DNNN chính thức chuyển thành công ty cổ phần, báo cáo cũng nêu lý do khác là do thiếu số liệu báo cáo của các doanh nghiệp độc lập do Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế làm chủ sở hữu. Trong báo cáo năm 2015, lý do trên - thiếu số liệu do các doanh nghiệp không báo cáo - cũng được nêu ra. Nếu lần ngược trở lại năm 2014, vẫn thấy có lý do này.


Điều này cho thấy sự coi thường những quy định pháp luật về chế độ báo cáo tình hình hoạt động của các DNNN không có dấu hiệu giảm sút, bất chấp mọi nỗ lực khắc phục căn bệnh này trong các năm qua. Đáng chú ý hơn, sự vi phạm này không chỉ diễn ra một lần (một năm) mà còn tái diễn trong các năm sau. Cụ thể, ba cơ quan chủ sở hữu các doanh nghiệp không báo cáo số liệu gồm Bộ Công Thương, NHNN và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đều được nêu tên trong hai năm liền, 2015 và 2016. Lưu ý thêm là người viết mới chỉ so sánh tình hình này trong ba năm, từ 2014-2016, mà không rõ các năm trước có xảy ra tình trạng này hay không.

Lợi nhuận sụt giảm

Số liệu tài chính từ các báo cáo trong ba năm từ 2014-2016 được tổng hợp vắn tắt ở bảng 1. Dù số lượng DNNN báo cáo sụt giảm mạnh nhưng tổng tài sản thậm chí lại tăng nhẹ trong năm 2016. Vốn chủ sở hữu còn tăng mạnh hơn (theo giải thích là chủ yếu từ nguồn quỹ đầu tư phát triển được trích lập từ lợi nhuận sau thuế và chênh lệch đánh giá lại tài sản và thặng dư vốn thu được trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp thành viên, đơn vị phụ thuộc của DNNN).
Mặt khác, do số lượng DNNN báo cáo đã giảm mạnh qua từng năm nên đương nhiên là tổng doanh thu và lợi nhuận trước thuế của các DNNN có báo cáo cũng đã suy giảm. Nhưng điều đáng lưu ý là tốc độ sụt giảm lợi nhuận trước thuế mạnh hơn tốc độ sụt giảm doanh thu, và hoàn toàn đi ngược với xu hướng tăng lên về tài sản và vốn chủ sở hữu. Điều này cho thấy hiệu quả hoạt động của các DNNN nếu đánh giá trên chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế ngày càng có xu hướng suy giảm trong những năm qua.
Thực tế trên cũng phần nào được minh họa qua tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu cũng có xu hướng đi xuống, dù không thể phủ nhận sự khác biệt về phạm vi/số lượng DNNN báo cáo (tức là khác biệt về mẫu thống kê) cũng có thể góp phần vào sự suy giảm này.
Điều khá ngạc nhiên là tổng số phát sinh phải nộp ngân sách nhà nước (NSNN) lại tăng lên trong năm 2016 bất chấp doanh thu và lợi nhuận trước thuế suy giảm. Không có lý do nào được nêu ra trong báo cáo để giải thích hiện tượng này. Tuy nhiên, đây mới là khoản phải nộp mà không rõ trên thực tế Nhà nước có thu được đầy đủ các khoản phải nộp này không hay đã bị nợ đọng, trì hoãn.

Chỉ số an toàn hoạt động cải thiện nhẹ

Báo cáo không cho biết các chỉ tiêu cụ thể như tồn kho, vay nợ, nguồn vốn của tổng thể các DNNN trong từng năm nên ở đây ta sẽ dùng các con số thống kê tương ứng cho khối các tập đoàn kinh tế (TĐKT), tổng công ty (TCT), và công ty mẹ - con, vốn chiếm phần lớn giá trị của tất cả các DNNN để phân tích một số khía cạnh có liên quan. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý lại một lần nữa rằng các kết quả phân tích ở phần này có thể vẫn bị ảnh hưởng phần nào bởi sự thay đổi mẫu thống kê qua các năm.

Có thể thấy một sự khá nhất quán về xu hướng cải thiện của TĐKT trên các chỉ tiêu chọn lọc ở bảng 2. Trong khi tổng tài sản tiếp tục tăng (dù số lượng doanh nghiệp nhỏ đi), mức tăng của nợ phải thu có chiều hướng chậm lại và chậm hơn mức tăng tổng tài sản. Đặc biệt, mức nợ phải thu khó đòi cũng đã tăng chậm lại, thậm chí còn tụt giảm trong năm 2016, bù vào chuyện tỷ lệ nợ phải thu trên tổng tài sản tăng nhẹ hoặc không thay đổi trong ba năm qua. Đây là những chỉ báo tích cực về tình hình công nợ của DNNN.

Tỷ lệ tồn kho trên tổng tài sản đã giảm hoặc theo hướng ổn định cho thấy mối lo về tồn kho đã vơi bớt phần nào, không quá căng thẳng như các năm trước.

Về chuyện nợ nần, mức tăng nợ đã “khiêm tốn” hơn từ năm 2015, đặc biệt là khi hệ số tổng nợ phải trả trên tổng nguồn vốn giảm dần liên tục trong ba năm qua, trong khi tổng tài sản tiếp tục tăng. Thực tế này cho thấy gánh nặng nợ vay tại các DNNN đã có dấu hiệu cải thiện.

Nhờ vốn chủ sở hữu tăng (từ các nguồn nêu ở trên) nên hệ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản cũng tăng dần, cho thấy mức an toàn hoạt động của DNNN nhìn chung cũng đã có sự cải thiện nhę.

Tóm lại, qua báo cáo của Chính phủ, tuy vẫn còn hạn chế về phạm vi và tính nhất quán về thông tin được cung cấp, có thể thấy một bức tranh đan xen sáng tối liên quan đến DNNN, từ chuyện không tuân thủ quy định về báo cáo của không chỉ DNNN mà còn của cơ quan chủ quản, đến chuyện hiệu quả hoạt động (thể hiện ở mức sinh lợi) có xu hướng suy giảm song song với sự cải thiện nhẹ về chỉ số an toàn hoạt động.

Friday, 3 November 2017

Nên dứt khoát với việc cho phá sản ngân hàng (Bài đăng trên TBKTSG, 3/11/2017)


http://www.thesaigontimes.vn/166264/Nen-dut-khoat-voi-viec-cho-pha-san-ngan-hang.html
Hiện dự thảo Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi đang được đưa ra thảo luận tại Quốc hội. Một trong những vấn đề quan trọng trong lần sửa đổi này là việc cho phép cho phá sản các tổ chức tín dụng (TCTD) được kiểm soát đặc biệt như là một phương án cuối cùng sau khi đã thực hiện không thành công các phương án tái cơ cấu khác.
Việc cơ cấu lại TCTD bằng hình thức phá sản được cho là một hình thức răn đe, là động lực để các TCTD nâng cao chất lượng quản trị điều hành và trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn tiền huy động, từ đó nâng cao ý thức người gửi tiền và khách hàng lựa chọn TCTD có uy tín, chất lượng dịch vụ tốt.
Chuyển biến mới về nhận thức
Những đề xuất thay đổi như trên là một bước tiến lớn nếu so với chủ trương không để bất cứ ngân hàng nào phá sản trước đây, vốn đã vô hình trung biến thành một thứ bùa hộ mệnh cho giới chủ nhiều ngân hàng tiếp tục làm ẩu. Cũng vì chủ trương này mà dân chúng, những người gửi tiền, cũng chẳng bận tâm đến chất lượng an toàn của ngân hàng mà họ gửi tiền vào, miễn là các ngân hàng này sẵn sàng trả lãi cho tiền gửi của họ cao hơn các ngân hàng khác.
Tuy vậy, nhận thức mới nêu trên xem ra vẫn còn khá lấn cấn, e ngại với điều cấm kỵ “phá sản ngân hàng”, bởi cái cách quy định cho phá sản chỉ là phương án cuối cùng sau khi các phương án tái cơ cấu khác không thành công. Có lẽ các nhà làm luật vẫn lo sợ viễn cảnh đổ vỡ hàng loạt ngân hàng khác theo kiểu lây lan dây chuyền nếu để cho một ngân hàng yếu kém phá sản. Vì vậy, việc phá sản chỉ được coi là bước đường cùng, trong hoàn cảnh “cực chẳng đã”.
Sự lấn cấn, e ngại này sẽ dẫn đến một số hậu quả không mong muốn.
Thứ nhất, khi TCTD đã rơi vào hoàn cảnh bị kiểm soát đặc biệt và thậm chí đến mức thuộc đối tượng bị cho phá sản, tức là nó đã rơi vào hoàn cảnh rất ngặt nghèo, cần được khẩn trương xử lý càng sớm càng tốt. Nhưng do lo sợ phải cho TCTD này phá sản, hoặc do bị cấm bởi luật sửa đổi, các cơ quan chức năng sẽ buộc phải tiếp tục thí điểm hết tất cả các phương án khác cho đến khi nào rút ra được kết luận là TCTD này “vô phương cứu chữa”, chỉ còn giải pháp cho phá sản. Lúc đó thì việc cho phá sản TCTD có khả năng đã trở nên quá muộn, để lại nhiều hậu quả xấu cho ngân sách, cho hệ thống ngân hàng và cho toàn bộ nền kinh tế.
Thứ hai, cũng chính vì thấy được sự e ngại, lấn cấn của nhà làm và thực thi chính sách trong việc để cho TCTD phá sản, và nhìn thấy được khả năng bị cho phá sản là không cao, các ông chủ ngân hàng và nhất là giới gửi tiền (cả cá nhân và doanh nghiệp) tiếp tục làm ẩu, không bận tâm đến các chỉ tiêu an toàn, dù ở mức độ có thể ít hơn trước đây và hiện nay. Nói cách khác, loại rủi ro đạo đức kiểu này, vốn biến Chính phủ thành con tin, sẽ vẫn tiếp tục tồn tại trong ngành ngân hàng cho dù khả năng bị trừng phạt bằng hình thức phá sản đã có (nếu Luật về các TCTD sửa đổi được thông qua).
Đã “thông” thì phải thông suốt
Do những hậu quả nêu trên, phương án cho phá sản TCTD nên là một trong những phương án cần được xem xét song song với các phương án tái cơ cấu khác, thay vì là biện pháp cuối cùng. Nếu các phân tích chuyên môn cho thấy TCTD chỉ còn nước cho phá sản thì nhà chức trách cần thiết phải cương quyết cho nó phá sản, không bị trói buộc bởi quy định hay tư tưởng “không thử (các phương án khác) thì không biết”.
Với lo ngại về sự đổ vỡ lây lan, dây chuyền khi để cho một TCTD phá sản, phải thừa nhận rằng đây cũng là một khả năng có thật, có thể xảy ra. Nhưng khả năng này sẽ được giảm thiểu trước tiên bởi chính sự không khoan nhượng, không dễ dãi của nhà chức trách với những sai lầm, yếu kém của giới chủ ngân hàng.
Một khi thị trường và người dân thông suốt rằng cho phá sản TCTD là nhà chức trách đang tìm cách loại bỏ ung nhọt ảnh hưởng đến sinh mạng của toàn bộ hệ thống, và một khi hàng loạt biện pháp cả ngăn ngừa lẫn xử lý tình huống khác mà nhà chức trách đã và sẽ thi hành thì ảnh hưởng của sự phá sản một TCTD lên hệ thống sẽ có thể kiểm soát được.
Các biện pháp xa và gần
Các cuộc khủng hoảng, bất ổn tài chính ở châu Á, Mỹ và châu Âu năm 2007 và các năm sau đó cho thấy việc dùng tiền thuế của dân để cứu những ngân hàng có vấn đề nhằm ngăn chặn sự đổ vỡ lây lan không luôn là điều tốt, cần làm.
Một ví dụ cụ thể là trường hợp của Iceland và Ireland, hai quốc gia với nền kinh tế có quy mô tương tự nhau và cùng đối mặt với khủng hoảng tài chính năm 2008-2009.
Trong khi Ireland chọn phương án cứu giúp các ngân hàng của mình thì Iceland, ngược lại, tuyên bố họ chỉ bảo lãnh tài sản công dân của mình mà không phải cho các nhà đầu tư hoặc ngân hàng quốc tế. Thế nhưng, kết quả là Iceland đã nhanh chóng phục hồi và đạt được nhiều chỉ tiêu kinh tế thậm chí còn tốt hơn nhiều nước khác trên thế giới.
Thực tế này làm các nhà kinh tế học trên thế giới đặt câu hỏi phải chăng để ngân hàng phá sản là một lựa chọn mang tính hủy diệt? Cho phá sản không phải là một lựa chọn tồi. Nhưng sẽ là tốt hơn nếu có những giải pháp dài hạn mang tính phòng ngừa, được tiến hành một cách hiệu quả. Mà một trong những giải pháp cần làm trước tiên lại chính là làm cho các TCTD hiểu rõ rằng họ sẽ bị cho phá sản nếu tình hình buộc phải vậy, không có sự cứu trợ của nhà nước.
Giải pháp thứ hai là giảm thiểu khả năng TCTD trở nên “quá lớn để bị cho phá sản” - hiện tượng một TCTD có quy mô quá lớn làm chính phủ lo sợ khi nó phá sản sẽ làm đảo lộn toàn bộ hệ thống ngân hàng, tài chính quốc gia nên không thể để nó phá sản được. Để làm việc này, cần có những chế tài giới hạn khả năng các TCTD phình to quá mức (so với quy mô GDP quốc gia), khống chế những lĩnh vực họ được phép làm với tài sản của mình.
Nên dứt khoát với việc cho phá sản ngân hàng
Phan Minh Ngọc
 

Nên dứt khoát với việc cho phá sản ngân hàng
Phan Minh Ngọc

Thursday, 26 October 2017

Cần nhiều hơn chuyện kê khai tài sản (Bài đăng trên VnExpress, 26/10/2017, bản gốc)

https://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/ke-ma-khong-khai-3661087.html

(Lưu ý: Bài trên VnExpress là bản do báo tự biên tập lại, kể cả tiêu đề. Tớ đọc mà chỉ thấy nhang nhác giống bài của mình viết).

Chính phủ đã đưa ra lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi). Trong dự thảo luật này, một trong những điểm then chốt được bổ sung là chuyện kê khai tài sản, thu nhập và và công khai bản kê khai tài sản, thu nhập. Dự thảo luật cũng đưa ra một số phương án lựa chọn liên quan đến một số điểm mới được bổ sung như: (1) cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập; (2) đối tượng kê khai tài sản, thu nhập; (3) công khai bản kê tài sản, thu nhập; và (4) trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.

Những nhà làm luật và ngay cả dư luận kỳ vọng rằng khi Dự thảo luận được thông qua, dù với phương án nào trong số những phương án nêu trên thì đây sẽ là một công cụ pháp lý hữu hiệu để phòng, chống tham nhũng, nếu nó được thực thi nghiêm túc.

Nhưng tất cả nằm ở chữ “nếu”!

Thẳng thắn ra mà nói, các luật phòng chống tham nhũng trước đây và hiện tại, ví dụ như Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống, tham nhũng ban hành tháng 11 năm 2012 cũng đã bổ sung khá đầy đủ các điều xoay quanh vấn đề kê khai tài sản, thu nhập, và công khai bản kê khai tài sản, không thiếu nhiều (những điều quan trọng) so với Dự thảo luật nói trên.

Và kết quả thực hiện các luật này như thế nào thì là điều đã rõ hiện nay.

Người ta vẫn tránh né kê khai hoặc kê khai gian dối tài sản, thu nhập.

Người ta vẫn tránh né việc công khai hoặc công khai nửa vời (không đúng quy định) bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ công khai.

Người ta vẫn lấp liếm, bao che hoặc thực hiện thanh tra xác minh tài sản hời hợt, chiếu lệ.

Người ta vẫn tránh né xử lý những người vi phạm hoặc xử lý theo kiểu “giơ cao đánh khẽ”.


Và, quan trọng hơn, người ta vẫn hầu như bình yên vô sự sau tất cả những “sóng gió” xảy ra. Để rồi phòng, chống tham nhũng từ bao năm nay vẫn chỉ chủ yếu dừng lại ở mức quyết tâm, mang tính khẩu hiệu là nhiều.

Vậy thì nguyên nhân của tình trạng tham nhũng, lợi dụng chức quyền trục lợi tràn lan hiện nay nhất định không phải là do luật thiếu hay yếu. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung luật sẽ không có mấy ý nghĩa, tác dụng thực tế nếu chỉ coi gốc rễ của vấn đề là do luật.

Để việc phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, song song với việc hoàn thiện pháp luật, điều quan trọng hơn là phải dần làm chuyển biến Việt Nam thành một quốc gia không khoan nhượng với tham nhũng theo tinh thần của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu truyền lại cho Singapore, biến nước này thành một trong những quốc gia trong sạch, ít tham nhũng nhất thế giới (đứng thứ 7 trong bảng xếp hạng mức độ tham nhũng của tổ chức Minh bạch Quốc tế, Transparency International, năm 2016). Nói cách khác, cần phải làm thay đổi quan niệm phổ biến trong xã hội rằng tham nhũng là tất yếu, mặc dù tham nhũng có thể là một hiện thực của cuộc sống vì tham nhũng được sinh ra bởi lòng tham, một trong những thuộc tính của con người.

Kinh nghiệm thành công trong phòng, chống tham nhũng của Singapore cho thấy không thể thiếu ý chí chính trị và sự lãnh đạo mạnh mẽ, cũng như một văn hóa “nói không” với tham nhũng của dân chúng và quan chức nước này.

Thái độ cứng rắn của các nhà lãnh đạo đối với tham nhũng cũng cần phải có công cụ để hiện thực hóa. Có thể nói một yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công của Singapore trong công cuộc chống tham nhũng là sự hình thành và hoạt động của Cục Điều tra tham nhũng (CPIB), một tổ chức có quyền lực rất lớn trong cả khởi tố lẫn phòng ngừa tham nhũng và có sự độc lập cao độ trong các hoạt động của mình với mọi ảnh hưởng chính trị.

Cách thức hoạt động của CPIB cũng không có gì là bí hiểm hay đặc biệt và “khác người”, thậm chí là ngược lại. Họ đánh giá cao vào giá trị của và, vì thế, dựa nhiều vào thông tin tố giác của dân chúng. Đến đây, văn hóa “nói không” với tham nhũng của người dân Singapore lại cộng hưởng mạnh mẽ với nỗ lực phát huy sức mạnh của dân chúng của CPIB. Cơ quan này thành lập ra các trung tâm và kênh tiếp nhận thông tin tố giác thuận tiện cho dân chúng tiếp cận. Phần lớn các cuộc điều tra tham nhũng của CPIB bắt nguồn từ những tin tức tố giác này.

Hiển nhiên là “dao sắc không gọt được chuôi”. Không hiếm trường hợp trên thế giới mà tham nhũng tồn tại ngay trong cơ quan phòng, chống tham nhũng. Bởi vậy, cần một cơ chế tuyển chọn và đãi ngộ đặc biệt cho cơ quan này nhằm hạn chế tối đa tham nhũng ở đó, biến nó thành nơi không thể tham nhũng.

Với người dân Singapore, không phải tự nhiên mà họ có được tinh thần bài trừ tham nhũng cao như vậy. Kết quả xử lý tham nhũng hữu hiệu của chính quyền, không có trường hợp ngoại trừ, “vùng cấm”, là một nguồn dinh dưỡng tiếp sức mạnh mẽ cho tinh thần này. Chính quyền và CPIB cũng thường xuyên tiến hành các cuộc nói chuyện, tuyên truyền cho dân chúng qua các triển lãm, sự kiện, để lan rộng tinh thần chống tham nhũng ra khắp cộng đồng.

Bởi vậy, thiết nghĩ một thực đơn phòng, chống tham nhũng hữu hiệu đã có sẵn. Có chăng chỉ là người ta muốn và sẽ thực hiện (được) đến đâu mà thôi.

Xử lý nợ xấu vẫn sẽ gian nan! (Bài đăng trên TBKTSG, 26/10/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/165958/Xu-ly-no-xau-van-se-gian-nan.html

Bộ Tài chính vừa thông qua Quyết định 2071/QĐ-BTC về việc ban hành kế hoạch hành động triển khai Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020”. Trong quyết định này có một số điểm đáng chú ý, liên quan đến tiến trình và kết quả xử lý nợ xấu.

Đã có sự bóc tách cụ thể hơn về nợ xấu

Từ trước cho đến nay, người ta hầu như vẫn chỉ hiểu, được làm cho hiểu rằng nợ xấu chủ yếu là vấn đề của ngành ngân hàng, do các ngân hàng chịu trách nhiệm (và gánh tổn thất) là chính. Hầu như không có một văn bản pháp luật chính thức nào đề cập đến phần nợ xấu bị gây ra bởi sự liên quan, dính líu của các cấp đảng, chính quyền và các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, Quyết định 2071 đã đề cập (một cách gián tiếp) đến những khoản nợ xấu theo dạng này.

Cụ thể, Bộ Tài chính có các trách nhiệm sau:

Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ quy định của pháp luật nghiên cứu xây dựng phương án và lộ trình bố trí nguồn xử lý các khoản nợ xấu liên quan đến nợ đọng xây dựng cơ bản có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước trung ương, địa phương, trình cấp có thẩm quyền quyết định để tổ chức thực hiện.”

“Căn cứ quy định của pháp luật, nghiên cứu, xây dựng lộ trình và báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án, nguồn xử lý các khoản nợ xấu từ hoạt động cho vay theo các chương trình dự án, chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam.”

“Căn cứ quy định của pháp luật, đánh giá, nghiên cứu phương án, lộ trình và bố trí nguồn xử lý các khoản nợ xấu liên quan đến khoản nợ Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh.

Và “Chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các bộ, ngành, các cơ quan chủ quản của các doanh nghiệp nhà nước và các cơ quan, tổ chức tín dụng liên quan xây dựng phương án xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước.”

Như vậy, một phần trong khối nợ xấu hiện nay của ngành ngân hàng đã được thừa nhận một cách gián tiếp là do nhà nước, chính quyền gây ra và/hoặc có trách nhiệm xử lý. Những khoản nợ xấu thuộc loại này gồm: (1) nợ xấu do hoặc liên quan đến nợ đọng xây dựng cơ bản (do doanh nghiệp/ngân hàng không được giải ngân vốn ngân sách đầy đủ, đúng tiến độ?); (2) nợ xấu do cho vay theo các chương trình dự án, chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (chỉ định nhưng không cấp nguồn lực, làm cho các ngân hàng đã giải ngân phải “chịu trận” khi con nợ mất khả năng chi trả?); (3) nợ xấu từ các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh (nhưng Chính phủ chưa thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?); và (4) nợ xấu do doanh nghiệp nhà nước gây ra (có thể gồm các khoản vay theo chỉ định; các ngân hàng không thể làm gì được vì ông chủ các doanh nghiệp này là nhà nước).

Vi phạm hay không vi phạm Nghị quyết Quốc hội?

Sự bóc tách nợ xấu như trên về mặt nào đó có thể nói là một bước tiến đáng khích lệ trong công cuộc xử lý nợ xấu, với sự “vào cuộc” thông qua những nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể của nhà nước, của chính quyền các cấp, chứ không còn bị bỏ mặc cho ngành ngân hàng loay hoay tự xử lý như trước nữa. Tuy nhiên, đến đây lại phát sinh ra vấn đề liên quan.

Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu được Quốc hội thông qua hồi tháng 6 có nêu rõ quyết nghị “không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu.” Trong khi đó, theo Quyết định 2071 nói trên, Chính phủ có trách nhiệm bố trí nguồn (lực) xử lý các khoản nợ xấu thuộc trách nhiệm của mình. 

Ở đây chỉ có hai khả năng. Một là Chính phủ buộc phải dùng ngân sách nhà nước để thực hiện các nghĩa vụ của mình liên quan đến các khoản nợ xấu nói trên. Và điều này rõ ràng là vi phạm Nghị quyết 42. Phải chăng (Chính phủ biết rằng) Quốc hội sẽ (buộc phải) “châm trước”, bỏ qua sự vi phạm này, hoặc Quốc hội sẽ sớm ra một nghị quyết sửa đổi để gỡ vướng cho Chính phủ (và bản thân Quốc hội cũng đến lúc phải thẳng thắn thừa nhận vấn đề này)?

Khả năng thứ hai là Chính phủ sẽ phải tìm một nguồn lực, nguồn kinh phí nào đó không thuộc ngân sách. Về danh nghĩa, nguồn lực như vậy chỉ có thể đến từ một bên thứ ba, nhưng thường chỉ có được khi có sự liên đới về trách nhiệm của Chính phủ, ví dụ bảo lãnh, cam kết… Mà như vậy thì cũng vẫn là dùng ngân sách nhà nước vì không thể có khả năng 100% rằng những khoản tài chính dưới sự bảo lãnh, cam kết của Chính phủ sẽ được thu hồi hoàn toàn.

Trên hết, dù khả năng nào xảy ra chăng nữa thì vẫn thấy rõ một điều rằng việc thu xếp các nguồn tài chính để xử lý các khoản nợ xấu thuộc trách nhiệm của Chính phủ sẽ không hề dễ dàng, suôn sẻ. Một khi “danh” đã không “chính” thì “ngôn” sẽ chẳng “thuận”. Sẽ phải mất nhiều thời gian để giải quyết vướng mắc pháp lý giữa Quốc hội, Chính phủ, chủ nợ, các chủ thể liên quan và dư luận.

Gánh nặng tài chính ngày càng… quá nặng!

Một điểm đáng chú ý khác trong Quyết định 2071 là Bộ Tài chính có trách nhiệm “Chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cân đối, bố trí nguồn để tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đến năm 2020 để đáp ứng đủ vốn theo chuẩn mực vốn của Basel II…”

Trách nhiệm trên đồng nghĩa với áp lực thu chi ngân sách ngày càng lớn. Trước đây, Chính phủ còn trông vào cổ tức của các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước như một nguồn thu bổ sung cho ngân sách cạn kiệt. Nhưng, với quy định này và những quy định liên quan khác, không những nguồn thu cổ tức này coi như không còn, ít nhất cho đến năm 2020, mà thậm chí ngược lại, Chính phủ phải trích ngân sách để bổ sung vốn cho các ngân hàng này.

Ngoài ra, hiện nay nhà nước còn là chủ sở hữu của 3 ngân hàng “0 đồng” mua bắt buộc từ 2 năm trước, hiện đang trong tình trạng âm vốn chủ sở hữu trầm trọng lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Chỉ riêng việc tái cấp vốn cho các ngân hàng này để phục hồi mức vốn điều lệ như quy định hiện hành cũng đã là một gánh nặng quá lớn, quá khó cho ngân sách. Nếu phải tuân theo tiêu chuẩn vốn của Basel II ở mức cao hơn nữa thì không khó để hình dung ngân sách sẽ căng thẳng đến mức nào, trừ khi 3 ngân hàng này tiếp tục được “để ngoài” phạm vi chế tài của các luật hiện hành như hiện tại. Nhưng nếu làm như vậy thì không biết bao giờ 3 ngân hàng này mới thoát khỏi được trạng thái “xác sống” để quay về với đời sống thường nhật?

Điều đáng nói thêm ở đây là căng thẳng ngân sách đương nhiên sẽ càng làm khó tiến trình xử lý nợ xấu, chí ít vì những khoản xử lý nợ xấu cần chi trả từ ngân sách sẽ không được thực hiện hoặc không đúng thời hạn.

Lại nghiên cứu và nghiên cứu…

Việc xử lý nợ xấu đang là việc “nước sôi lửa bỏng” nhưng Bộ Tài chính ít ra thì vẫn chỉ mới (bắt đầu, hy vọng là vậy) nghiên cứu, hoàn thiện, xây dựng một số vấn đề về, ví dụ, hoạt động mua, bán nợ của các doanh nghiệp, về hình thành, phát triển và quản lý thị trường mua, bán nợ; phương án và lộ trình bố trí nguồn xử lý các khoản nợ xấu liên quan đến nợ đọng xây dựng cơ bản; phương án, lộ trình và bố trí nguồn xử lý các khoản nợ xấu liên quan đến khoản nợ Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh; phương án xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước; hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ, và cơ chế tài chính đối với các tổ chức tín dụng yếu kém trong quá trình cơ cấu lại và xử lý nợ xấu.

Lộ trình thực hiện cho những sự nghiên cứu với hoàn thiện nói trên, ngắn thì là đến năm 2018, dài thì đến tận năm 2020. Điều này có nghĩa là việc xử lý nợ xấu hiện tại sẽ tiếp tục là câu chuyện dài tập khi mà cơ chế và khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động và giải pháp xử lý liên quan nói trên, có những cái chỉ (hy vọng là) được hoàn thành, hoàn thiện vào năm 2020.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).