Friday, 13 October 2017

Thương mại Việt Nam: Sự lên ngôi của Hàn Quốc (Bài đăng trên TBKTSG, 13/10/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/165471/Thuong-mai-Viet-Nam-su-len-ngoi-cua-Han-Quoc.html

Theo số liệu cập nhật tình hình xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải Quan đến tháng 9 vừa qua (Bảng 1), nhập siêu từ Hàn Quốc tiếp tục gia tăng mạnh hơn trong năm nay.
Thay đổi về kim ngạch


Bảng 1 cho thấy tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam với thế giới nói chung và với 3 nước đối tác chính ở châu Á là Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc trong thời gian qua. Theo đó, cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đều tăng vọt trong 9 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, xuất khẩu tăng 20% đạt 154,3 tỷ đô la (năm 2016 chỉ tăng 9%). Nhập khẩu còn tăng mạnh hơn, với tốc độ 22,7% trong cùng kỳ (so với tốc độ 5,6% năm 2016), đạt gần 154 tỷ đô la (xuất siêu 328 triệu đô la).
Nhìn vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với 3 nước đối tác chính ở khu vực thì xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc tiếp tục giữ vững đà tăng mạnh từ 2015, và đạt tốc độ 27,5% trong 9 tháng đầu năm nay. Xuất khẩu sang Trung Quốc bứt phá ngoạn mục so với năm 2016, đạt tốc độ tăng tới 47,1%. Trong khi đó, tăng trưởng xuất khẩu sang Nhật khiêm tốn hơn, ở mức 15,3% so với cùng kỳ năm 2016.


Do xuất khẩu sang Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng áp đảo nên thị phần xuất khẩu sang Trung Quốc tiếp tục gia tăng, chiếm đến 14,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 9 tháng đầu năm nay so với 12,4% cùng kỳ năm trước. Tiếp đó, thị phần xuất khẩu sang Hàn Quốc cũng tiếp tục được cải thiện lên 6,9% năm nay so với 6,5% năm trước. Ngược lại, do tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật có tốc độ chậm hơn nên thị phần sang Nhật có xu hướng ngày càng thu hẹp lại, còn 8% trong 9 tháng đầu năm nay so với 9,8% năm 2014.
Về phía nhập khẩu, nhập khẩu từ Hàn Quốc đã có bước nhảy đột biến, tăng trưởng tới 48.6% trong 9 tháng đầu năm so với chỉ 16,4% trong năm trước, đẩy nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc lên tới 23,7 tỷ đô la trong 9 tháng đầu năm nay so với mức nhập siêu 20,7 tỷ đô la năm 2016.


Nhập khẩu từ Trung Quốc và đặc biệt là Nhật tuy cũng tăng trưởng mạnh so với năm trước nhưng kém xa so với tốc độ nhập khẩu từ Hàn Quốc. Do nhập khẩu tăng trưởng chậm hơn xuất khẩu nên nhập siêu với Trung Quốc tụt giảm mạnh còn 19,5 tỷ đô la năm nay so với 28 tỷ năm trước. Trong khi đó, Việt Nam lại xuất siêu sang Nhật trong năm nay từ mức nhập siêu năm trước.
Như vậy, Hàn Quốc chính là nguyên nhân hàng đầu đằng sau tăng trưởng mạnh nhập khẩu của Việt Nam trong năm nay. Và dù thị phần nhập khẩu vẫn thấp hơn Trung Quốc nhưng khoảng cách này đang được thu hẹp rất nhanh.


Thay đổi về cơ cấu nhập khẩu
Vì bài này tập trung vào phân tích chuyện nhập siêu của Việt Nam nên ở phần này ta chỉ xét đến cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam tập trung vào các mặt hàng chính.


3 mặt hàng nhập khẩu chủ chốt của Việt Nam từ thế giới là (1) máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (gọi tắt là điện tử, linh kiện); (2) điện thoại các loại và linh kiện (điện thoại, linh kiện); và (3) máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (máy móc, phụ tùng), như được nêu ở Bảng 2.
Điều đáng chú ý là tỷ trọng của 3 mặt hàng nhập khẩu chính nói trên trong tổng kim ngạch nhập khẩu Việt Nam có xu hướng tăng đều và đáng kể trong mấy năm qua, từ 33,6% năm 2014 lên 41,3% trong 9 tháng đầu năm nay.


3 nước châu Á bạn hàng nhập khẩu chính của Việt Nam chiếm tỷ trọng chi phối trong 3 mặt hàng nhập khẩu chính, đặc biệt là mặt hàng điện thoại và linh kiện. Trong 3 nước này, Hàn Quốc dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng ở cả 3 mặt hàng, và về thị phần ở 1 mặt hàng là điện tử, linh kiện. Nói cách khác, nhập khẩu từ Hàn Quốc đã lấn át, tranh mất thị phần của Trung Quốc và nhất là của Nhật ít nhất là đối với 3 mặt hàng nhập khẩu chủ chốt.
Đánh giá


Điều đầu tiên có thể rút ra từ sự phân tích trên là tuy Việt Nam đều có các Hiệp định thương mại song phương/đa phương (FTA) với 3 nước bạn hàng châu Á nói trên nhưng xem ra FTA của Việt Nam với Hàn Quốc hiện đang phát huy rõ ràng tác dụng nhất, đặc biệt ở khía cạnh tốc độ tăng trưởng nhập khẩu vào Việt Nam từ Hàn Quốc.
Có thể lý giải cho sự tăng trưởng mạnh của Hàn Quốc với tư cách là một trong những bạn hàng thương mại chính (nhất là nhập khẩu) của Việt Nam là nhờ sự đầu tư gia tăng của Hàn Quốc vào Việt Nam như nhiều người đã chỉ ra. Nhưng cũng có thể còn lý do nữa là FTA với Hàn Quốc mới chỉ có hiệu lực từ cuối năm 2015, và thời gian đầu khi có hiệu lực thì thường chứng kiến sự gia tăng các hoạt động đầu tư và thương mại chớp lấy cơ hội mới mở ra. Không loại trừ khả năng xuất nhập khẩu và kể cả đầu tư của Hàn Quốc sẽ tăng trưởng trở lại tốc độ bình thường như các đối tác khác, Trung Quốc hay Nhật sau khi các FTA với họ đã tồn tại được một thời gian.


Thứ hai, có một mối lo ngại thường trực là càng ký nhiều FTA Việt Nam càng có khả năng trở nên thị trường tiêu thụ hàng hóa cho các nước đối tác do năng lực cạnh tranh xuất khẩu còn tương đối yếu, chưa tận dụng được các cơ hội mang lại từ các FTA này. Thực tế thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc cũng đã có sự bứt phá mạnh (cao hơn tăng trưởng xuất khẩu chung). Và nếu nhìn vào cơ cấu hàng nhập khẩu trong năm qua và năm nay, dễ thấy là sự tăng lên về nhập khẩu từ Hàn Quốc lại đồng hành với sự sụt giảm nhập khẩu (về thị phần) từ Trung Quốc và Nhật, hoặc từ các nước khác. Nói cách khác, có thể Việt Nam đã tìm được một bạn hàng để xuất khẩu và, đặc biệt là nhập khẩu phù hợp hơn, ít nhất là so với Trung Quốc và Nhật như được thể hiện ở nhóm hàng điện tử, linh kiện, và nhóm hàng máy móc, phụ tùng (Bảng 2). Và điều quan trọng là về tổng thể xuất nhập khẩu thì cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam khá cân bằng trong năm nay (vẫn xuất siêu nhẹ).
Tóm lại, sự lên ngôi của Hàn Quốc và đi kèm là sự thoái vị của Trung Quốc với tư cách là nước gây nhập siêu lớn cho Việt Nam không phải là điềm xấu ít nhất là xét đến thời điểm hiện tại, nhưng cũng không nhất thiết là điểm tốt nếu nhìn từ góc độ “thoát Trung”. Bởi rốt cuộc thì chỉ có thị trường mới quyết định ai sẽ là bạn hàng của ai, về cái gì.





Wednesday, 4 October 2017

Đại học phải nghiên cứu (Bài đăng trên VnExpress, 5/10/2017, bản gốc)

https://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/dai-hoc-phai-nghien-cuu-3651025.html?vn_source=box-GocNhin&vn_medium=ho&vn_campaign=vn

Một nhóm tác giả độc lập (nhóm tác giả) mới đây đã công bố bảng xếp hạng 49 đại học ở Việt Nam. Bảng xếp hạng này đã làm xôn xao dư luận bởi một số trường bấy lâu nay vẫn được coi là hàng đầu thì nay đứng ở hạng trung hoặc hạng bét. Kết quả này, theo giải thích của nhóm tác giả, là do sự hiện diện trên các ấn phẩm khoa học quốc tế của những trường được coi là hàng đầu này lại không cao.
Chuyện chung


Trước tiên, phải nhìn nhận một điều là trọng số của tiêu chí nghiên cứu khoa học (và công bố trên các ấn phẩm khoa học quốc tế) có thể là quá cao – 40%, trong khi số tiêu chí thì ít, chỉ có 3. Nếu so với bộ tiêu chí dùng để xếp hạng các đại học trên thế giới, ví dụ của Times Higher Education với bảng xếp hạng World University Rankings (1), thì thấy các chỉ tiêu và trọng số của nhóm tác giả là quá nghèo nàn và mất cân đối.
Nhưng có một điều đáng chú ý là dù có nhiều chỉ tiêu hơn nhằm đánh giá toàn diện chất lượng các đại học trên thế giới nhưng tổ chức công bố bảng xếp hạng World University Rankings vẫn gán trọng số tới 30% cho nghiên cứu (gồm các chỉ tiêu thành phần là khảo sát danh tiếng của trường trong nghiên cứu; thu nhập từ nghiên cứu tính trên lượng cán bộ khoa học của trường; và năng suất nghiên cứu tính theo số bài báo công bố trên các tạp chí học thuật quốc tế).


Đồng thời, số lượng các nghiên cứu được công bố của trường được trích dẫn trên thế giới (cho biết tầm ảnh hưởng và đóng góp của các nghiên cứu của trường đến kho tàng trí thức nhân loại) cũng được gán trọng số tới 30%. Ngoài 2 chỉ tiêu này, chỉ có giảng dạy (hoặc môi trường học tập) mới được gán trọng số 30%. 
Cách dùng các chỉ tiêu như trên cho thấy nghiên cứu và các yếu tố liên quan đóng một vai trò quan trọng đặc biệt, có thể nói là chi phối trong định vị thứ hạng của các trường đại học. (Cũng lưu ý thêm là tổ chức xếp hạng có những điều chỉnh thích hợp để khắc phục những chênh lệch giữa các loại hình đại học, ngành nghiên cứu, làm cho việc so sánh trở nên nhất quán, có ý nghĩa).


Nếu áp dụng bộ chỉ tiêu này, hoặc dù ở dạng lược giản hơn để phù hợp với tình trạng thiếu thông tin và thông tin không nhất quán, minh bạch ở Việt Nam, thì chắc cũng sẽ dẫn đến một kết quả khá tương tự như của nhóm tác giả, do chỉ tiêu nghiên cứu vẫn chiếm trọng số lớn và dễ dàng thống kê, so sánh nhất quán từ các nguồn quốc tế. Nói cách khác, một số đại học bấy lâu nay ở Việt Nam tuy vẫn là “hàng hot”, thu hút đông đảo sinh viên với điểm tuyển vào cao ngất ngưởng nhưng chắc chắn sẽ có thứ hạng rất xoàng vì thành tích nghiên cứu nghèo nàn, đáng thất vọng của họ. Thực tế này nên được thừa nhận một cách thẳng thắn và dũng cảm. Nếu không, họ mãi sẽ chỉ lội trong vũng ao làng, chỉ là “lò” dạy học sinh lớp 13+ mà thôi.
Chuyện riêng

Xin kể trải nghiệm của bản thân người viết để minh họa thêm cho tầm quan trọng của nghiên cứu trong trường đại học. Năm thứ hai làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Khoa Kinh tế, Đại học Kyushu (Nhật Bản), người viết đã có một nghiên cứu được chấp nhận xuất bản bởi tạp chí ASEAN Economic Bulletin (Singapore). Với nghiên cứu này, người viết được GS Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản, người chắc không xa lạ gì với giới làm chính sách hay học thuật ở Việt Nam, mời đến viện mình để trình bày nghiên cứu. Khi gặp người viết và biết rằng nghiên cứu này sẽ được xuất bản, GS Ohno nói ngay, đại ý là thế thì người viết coi như đã tốt nghiệp được rồi.


Cũng phải nói thêm, ở các trường khác, nước khác thì không biết như thế nào, nhưng ở Khoa Kinh tế Đại học Kyushu điều chủ chốt giúp nghiên cứu sinh tốt nghiệp được và sớm (3 năm) hầu như chỉ là phải có nghiên cứu được công bố, ít nhất thì là những tạp chí khoa học hàng đầu trong Nhật, và tốt hơn thì là tạp chí quốc tế. Bởi vậy, rất thường xuyên có nhiều người “ăn dầm nằm dề” ở khoa, thậm chí đến cả dăm bảy năm hoặc hơn mà vẫn chưa thấy tốt nghiệp được. Ngược lại, khi có một nghiên cứu sinh nào đó xuất bản được một nghiên cứu như vậy thì không chỉ con đường theo đuổi học vấn được rộng mở mà bản thân còn nhận được sự tôn trọng pha chút ganh tị của những người xung quanh. Điều này thậm chí còn đúng ngay với cả đội ngũ giáo sư của khoa, nhất là khi họ “vượt vũ môn”, xuất bản được một nghiên cứu nào đó ra thế giới.
Ngoài ra, cũng chính bởi người viết xuất bản được nghiên cứu trên và sau đó là một số nghiên cứu khác trong năm tiếp theo nên đã được trường giữ lại làm giảng viên chính thức, dù vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện luận văn tốt nghiệp. Có lẽ đây là trường hợp người nước ngoài hiếm hoi ở nơi này.


Nhìn rộng ra, trong giới làm nghiên cứu, giảng dạy tại các đại học và cơ sở nghiên cứu, điều làm nên sự khác biệt giữa các cá nhân cũng như giữa các trường đại học chính là thành tích nghiên cứu, mà như được đại diện bởi bộ tiêu chí đánh giá nói ở trên. Vào các trang nhà của bất cứ một đại học có thứ hạng nào trên thế giới đều có phần giới thiệu trang trọng đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên với lí lịch học thuật liệt kê các nghiên cứu đã công bố, các cuốn sách đã xuất bản. Bởi, suy cho cùng, điều gì chứng nhận được, thước đo nào phản ánh chính xác được trình độ học thuật, uy tín và danh tiếng của cá nhân, của trường tốt hơn là đội ngũ giảng viên nổi danh với các công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí quốc tế hàng đầu của họ?


(1)    https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/methodology-world-university-rankings-2016-2017

Tuesday, 3 October 2017

Bảo lãnh chính phủ cho Lọc dầu Dung Quất: phải có điều kiện (Bài đăng trên TBKTSG, 3/10/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/165054/Bao-lanh-chinh-phu-cho-Loc-dau-Dung-Quat-phai-co-dieu-kien.html

Tin tức mới đây cho thấy Chính phủ giao Bộ Công Thương phối hợp với các bộ khác xem xét nội dung báo cáo và kiến nghị của tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) để đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất do Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) quản lý, vận hành.
Theo kiến nghị của PVN, dự án này cần khoản vay lên tới 1,26 tỉ đô la Mỹ và cần được Chính phủ bảo lãnh để tiếp cận được nguồn vốn vay nước ngoài và vay thương mại. Ngoài ra, một điểm đáng chú ý khác là trong tờ trình BSR gửi Bộ Công Thương mấy tháng trước, BSR cho biết, số tiền vay 1,26 tỉ đô la Mỹ này là “phù hợp với quyết định phê duyệt của Thủ tướng”(1). Mặt khác, BSR cũng tiết lộ thêm rằng “hiện nay công ty không bị áp lực về nguồn vay cho dự án, song vẫn cân nhắc để có được nguồn vốn vay lãi suất thấp và thời gian vay dài hạn”.
Căn cứ vào nội dung và cách đặt vấn đề của BSR và PVN, cũng như thực tiễn làm chính sách ở Việt Nam, ít có khả năng Chính phủ đã cam kết bảo lãnh vay vốn (vô điều kiện) cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Nhưng, ngược lại, chuyện bảo lãnh cũng không phải là chuyện không thể xảy ra, nếu dự án này đáp ứng được một số điều kiện nào đó.
Trên nguyên tắc, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất thuộc sở hữu 100% của Nhà nước, một nguồn vốn khổng lồ đã tiêu tốn vào đây nên Chính phủ không thể “nhắm mắt làm ngơ”, để mặc Nhà máy Lọc dầu Dung Quất xoay xở với các khó khăn. Do vậy, cũng là hợp lý nếu Chính phủ xem xét chuyện bảo lãnh khi dự án này đáp ứng được một số điều kiện nhất định, chứ cũng không nên từ chối ngay với lý do, ví dụ, là Chính phủ đã hạn chế bảo lãnh nhằm hạn chế gánh nặng cho ngân sách như dư luận chỉ ra.
Và cũng cần nói thêm một chút về chủ trương hạn chế bảo lãnh này. Cụ thể, chỉ đạo của Thủ tướng là từ năm 2017 tạm dừng phê duyệt chủ trương cấp bảo lãnh cho các dự án mới(2). Trong khi đó, dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đã tồn tại từ nhiều năm nay, nên có thể nói là nó nằm ngoài phạm vi của chủ trương hạn chế cấp bảo lãnh.
Điều kiện để Chính phủ bảo lãnh vay vốn duy nhất đáng nói ở đây là khả năng tồn tại và cạnh tranh của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất sau khi BSR rót thêm vào nó một số tiền lớn nữa, trong đó có 1,26 tỉ đô la Mỹ vay với sự bảo lãnh của Chính phủ. Nói cách khác, BSR cần đảm bảo rằng số tiền đi vay này và những khoản vay trước đó chắc chắn sẽ trả lại được bằng nguồn trích từ lợi nhuận trong tương lai của bản thân Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (chứ không phải bằng việc, ví dụ, tiếp tục vay để đảo nợ), tránh cho Chính phủ phải lãnh trách nhiệm trả nợ thay sau này, và cũng đồng thời tránh việc tiếp tục “ném tiền qua cửa sổ” nếu thật sự Nhà máy Lọc dầu Dung Quất khó có khả năng tồn tại mà không có sự tiếp tục hậu thuẫn về tài chính và chính sách của Chính phủ.
Nhìn chung, khả năng tự đứng được trên đôi chân của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất là điều bất trắc, tuy vẫn có thể xảy ra nhưng lại kèm theo điều kiện mà BSR và PVN đặt ngược lại cho Chính phủ là “ban hành cơ chế ưu đãi bổ sung cho dự án nâng cấp”, đặc biệt là cơ chế ưu đãi về thuế đối với sản phẩm xăng dầu của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất(3). Điều này có nghĩa là nếu không có những ưu đãi gồm thuế và bảo lãnh chính phủ (để vay vốn lãi suất thấp nhằm hạ giá thành sản phẩm) thì sản phẩm của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất sau khi nâng cấp và mở rộng vẫn tiếp tục không thể cạnh tranh được với sản phẩm tương tự nhập khẩu. Thêm nữa, từ năm 2024, thuế nhập khẩu xăng dầu vào Việt Nam sẽ về 0% theo cam kết trong các hiệp định thương mại tự do. Lúc đó, sản phẩm của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất càng trở nên kém cạnh tranh hơn, thậm chí có khi Chính phủ phải bù lỗ nếu muốn nó tiếp tục hoạt động.
Cũng không nên quá lạc quan với khả năng cải thiện tính cạnh tranh sau khi Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được nâng cấp và mở rộng. Bởi, lúc đó nhà máy sẽ phụ thuộc phần lớn vào dầu thô nhập khẩu do nguồn dầu thô cung cấp trong nước suy giảm và có giá cao. Sau khi nâng cấp và mở rộng, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất gần như bắt đầu lại từ đầu, khác nhiều so với Nhà máy Lọc dầu Dung Quất trước khi nâng cấp. Vì vậy, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất mới sẽ không có mấy ưu thế so với những nhà máy lọc dầu khác hiện có và sắp ra đời trong khu vực và trên thế giới, từ nguyên liệu đầu vào, công nghệ, kinh nghiệm đến giá thành (gồm khấu hao tài sản).
Như vậy, nếu Chính phủ muốn bảo lãnh vay vốn cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, cần nhận thức được khả năng cao “đâm lao phải theo lao”, không chỉ trả nợ hộ mà còn phải tiếp tục duy trì hoặc tăng thêm các ưu đãi, trợ cấp để nó tồn tại. Và bài toán kinh tế lúc này sẽ là cân đo, so sánh tổng thiệt hại cho ngân sách trong hai trường hợp xấu nhất: (1) nếu Chính phủ không bảo lãnh, để Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và PVN tự xoay xở và kết cục cuối cùng có thể là phải bán (cổ phần hóa) Nhà máy Lọc dầu Dung Quất với giá rẻ cho nhà đầu tư tư nhân trong, ngoài nước, và (2) nếu Chính phủ bảo lãnh vay vốn (và trả nợ thay) đồng thời tiếp tục cung cấp các ưu đãi, thậm chí bù lỗ để Nhà máy Lọc dầu Dung Quất tiếp tục tồn tại. Lời giải bài toán này sẽ là căn cứ để Chính phủ quyết định sẽ làm gì với Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.
Cần nói thêm là Chính phủ nên thuê một tổ chức đánh giá độc lập về hiệu quả kinh tế của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất với nhiều giả định khắt khe hơn. Không nên dựa vào tính toán của bản thân Nhà máy Lọc dầu Dung Quất hay PVN vì thực tế cho thấy hiệu quả của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất thấp hơn so với tính toán khi lập dự án, và vì xu hướng chung của chủ đầu tư là thường phóng đại các lợi thế của dự án.
(1) http://s.cafef.vn/bsr-229344/loc-dau-dung-quat-trinh-du-an-nang-cap-mo-rong-nha-may.chn
(2) http://vneconomy.vn/thoi-su/chinh-phu-tam-dung-bao-lanh-cac-du-an-moi-tu-2017-20160827062847477.htm
(3) http://vneconomy.vn/thoi-su/dau-hoi-hieu-qua-18-ty-usd-mo-rong-nha-may-loc-dau-dung-quat-20170920100142621.htm

Friday, 22 September 2017

Xếp hạng tổ chức tín dụng để làm gì? (Bài đăng trên TBKTSG, 22/9/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/164794/Xep-hang-to-chuc-tin-dung-de-lam-gi.html


Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Thông tư quy định về xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi tắt là TCTD) để thay thế Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN ban hành quy định xếp loại ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM).
Xây dựng thông tư về xếp hạng TCTD là cần thiết
Theo NHNN, việc ban hành thông tư mới là để điều chỉnh những quy định của NHNN ban hành năm 2007 và 2008 (Quyết định 07/2007 và Quyết định 06/2008) về phân loại các TCTD vốn đã “không còn phù hợp” với các quy định pháp luật ban hành sau này, gồm Luật NHNN năm 2010 và Luật các TCTD năm 2010, và các thông tư liên quan của NHNN trong các năm 2013, 2014 và 2016.

Một trong những điểm “không còn phù hợp” được NHNN chỉ ra là đơn vị thực hiện xếp hạng, trước đây, theo Quyết định 06 và 07, là chính các TCTD tự đánh giá rồi gửi NHNN để NHNN xem xét và phê duyệt, trong khi đây là trách nhiệm của NHNN theo các luật sau này. Các quy định trước đây cũng chỉ mới có phạm vi điều chỉnh với NHTM và Quỹ Tín dụng nhân dân mà không bao gồm các loại hình khác gồm ngân hàng hợp tác xã, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Như vậy, điều có thể thấy trước hết là sự chậm trễ của NHNN trong việc sửa đổi các quy định về phân loại TCTD cho phù hợp với các quy định pháp luật sau này. Nói cách khác, sự phân loại của NHNN với các TCTD kể từ năm 2010 đến nay có thể nói là đã... phạm luật. Cho nên, dù là muộn, thì việc ban hành thông tư mới để sửa đổi những bất cập pháp lý là cần thiết và không thể trì hoãn nữa.

Điểm đáng chú ý khác là quy định về việc thông báo kết quả xếp hạng. Dự thảo thông tư không quy định NHNN phải công bố kết quả xếp hạng các TCTD trên trang web của NHNN, mà NHNN chỉ thông báo nó cho từng TCTD. Đây là một thay đổi lớn so với quy định trước đây, bởi Quyết định 06 quy định NHNN công bố kết quả xếp loại trên trang web của mình. Sự thay đổi này là do, theo giải thích của NHNN, “tính chất nhạy cảm” của việc công bố và “chất lượng của việc xếp loại cũng chưa được bảo đảm chính xác”. Cũng vì thế nên NHNN chưa bao giờ thực hiện việc công bố kết quả xếp loại trên trang web của mình theo quy định. Lý do khác nữa là, theo NHNN, họ tham khảo Ngân hàng Thế giới (WB) và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và thấy rằng chưa có nước nào công bố kết quả xếp hạng các TCTD và việc công bố này “có tính nhạy cảm cao”.
Những hệ lụy nếu không công bố kết quả...

Việc NHNN lấy lý do “nhạy cảm”, “chất lượng chưa bảo đảm” và chưa có tiền lệ trên thế giới để bỏ luôn quy định công bố xếp hạng các TCTD trong dự thảo thông tư nói trên nghe thoáng qua thì có vẻ hợp lý. Nhưng nếu suy xét kỹ hơn thì việc không công bố này vừa không có cơ sở, vừa sẽ gây ra một số vấn đề và hệ lụy lớn.
Thứ nhất, việc đánh giá, phân loại và công bố thông tin về tình hình hoạt động và sức khỏe của các NHTM không phải là không có, hoặc hiếm hoi trên thế giới. Ví dụ, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vẫn phối hợp với các cơ quan giám sát của các quốc gia thành viên định kỳ và bất thường tiến hành đánh giá sức khỏe của các ngân hàng mà ECB trực tiếp giám sát(1). Kết quả đánh giá được công bố, dù chứa đựng những thông tin rất “nhạy cảm”. Bởi, một trong những mục đích của việc đánh giá và công bố này là để, theo giải thích của ECB, tăng cường chất lượng thông tin hiện có về tình hình của các ngân hàng.

Nói cách khác, việc đánh giá, xếp hạng các TCTD chính là để đáp ứng yêu cầu xác đáng của tất cả các bên có liên quan, từ dân chúng đến Chính phủ và nhà đầu tư trong, ngoài nước về thông tin minh bạch liên quan đến tình hình của các TCTD mà chỉ có thể có được (một cách tương đối chính xác) từ các cơ quan chức năng như NHNN. Thêm nữa, từ ví dụ này cho thấy thông tin càng “nhạy cảm” thì càng cần có sự thanh tra, giám sát, đánh giá và công bố của cơ quan chức năng như NHNN, chứ hoàn toàn không có, không thể có cái vùng cấm nào gọi là “nhạy cảm” để mà thanh tra, đánh giá xong rồi “cất tủ”, chính xác hơn là chỉ thông báo cho các TCTD về thứ hạng của họ.
Thứ hai, nếu sau khi đánh giá, xếp hạng xong mà NHNN vẫn cứ “cất tủ” các thông tin này thì sẽ dẫn đến tình trạng gọi là thông tin bất đối xứng, tức là chỉ có một số người, nhờ cách nào đó, mới biết được các thông tin này. Tình trạng thông tin bất đối xứng sẽ làm lợi cho những người biết thông tin trong khi làm hại toàn bộ những người có liên quan khác. Thử tưởng tượng nhà đầu tư nhờ biết được thông tin ngân hàng X bị NHNN xếp loại yếu nên âm thầm bán ra cổ phiếu ngân hàng này, trong khi những nhà đầu tư khác vẫn vô tư ôm giữ vì tin tưởng nó đang hoạt động lành mạnh, bình thường. Tình trạng tù mù thông tin như thế này cần tuyệt đối không để xảy ra trong việc làm chính sách. Vì nếu thấy không an tâm với khả năng có thể xảy ra xáo động mạnh trên thị trường khi công bố xếp hạng các TCTD thì tốt nhất là NHNN không tiến hành đánh giá và xếp hạng các TCTD nữa. Và điều này sẽ dẫn đến vấn đề khác.

Thứ ba, nếu đánh giá và xếp hạng xong mà không công bố thì NHNN cần phải trả lời thỏa đáng câu hỏi, vậy rốt cuộc đánh giá và xếp hạng để nhằm mục đích gì, và phục vụ ai?

Trong văn bản thuyết minh cho dự thảo thông tư này của mình cũng như trong bản thân dự thảo thông tư, NHNN không đưa ra bất cứ mục đích nào mà việc đánh giá, xếp loại này nhắm đến, ngoài việc trích dẫn Luật các TCTD về nhiệm vụ của NHNN hàng năm phải thực hiện xếp hạng các TCTD để phục vụ công tác thanh tra, giám sát các TCTD.
Cứ giả sử rằng mục đích của việc xếp hạng là để phục vụ công tác thanh tra, giám sát các TCTD. Nhưng nếu vậy thì lại hơi “ngược đời”, vì có thanh tra, giám sát thì mới ra được bảng xếp hạng!

Và cứ giả sử là việc xếp hạng để phục vụ mục đích cho từng TCTD biết được thứ hạng của mình thì điều này là không cần thiết. Bản thân TCTD phải biết là họ đang trong tình trạng như thế nào, căn cứ vào các tiêu chuẩn hoạt động mà NHNN ban hành. Nếu cho rằng nhờ biết được xếp hạng của mình mà các TCTD biết mình đang ở đâu trong ngành, và có giải pháp, chiến lược phù hợp thì cũng không đúng nốt. Ít nhất là vì tuy họ biết được thứ hạng của mình nhưng không biết được thứ hạng của đối thủ và của những TCTD khác!
Còn nếu coi việc xếp hạng là một cảnh báo cho những TCTD yếu, kém thì điều này là thừa vì, như đã nói, kết quả xếp hạng chỉ có được sau khi thanh tra, giám sát TCTD. Khi phát hiện được TCTD yếu, kém theo tiêu chuẩn NHNN đặt ra thì họ có thể cảnh báo, yêu cầu trực tiếp các TCTD này khắc phục, sửa chữa.

Tóm lại, nếu không (muốn) công bố bảng xếp hạng các TCTD thì NHNN không cần phải tiến hành việc xếp hạng. Nếu cho rằng không tiến hành việc xếp hạng thì sẽ phạm luật (Luật các TCTD) thì NHNN cần phải bổ sung vào dự thảo thông tư quy định NHNN công bố kết quả xếp hạng, để tránh gây ra các vấn đề và hệ lụy nêu trên.

(1) https://www.bankingsupervision.europa.eu/banking/comprehensive/html/index.en.html


Monday, 18 September 2017

Các hãng xếp hạng tín dụng “đang nghĩ gì” về hệ thống ngân hàng Việt Nam? (Bài đăng trên CafeF, 18/9/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://cafef.vn/cac-hang-xep-hang-tin-dung-dang-nghi-gi-ve-he-thong-ngan-hang-viet-nam-20170918141540652.chn


Người viết mới đây có dịp nói chuyện với các hãng xếp hạng tín dụng chủ chốt tại Singapore về tình hình sức khỏe và triển vọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Theo mô típ chung, các hãng xếp hạng tín nhiệm trước khi đưa ra nhận định và đánh giá về tình hình và triển vọng của hệ thống ngân hàng thương mại thì đều bắt đầu với đánh giá về môi trường vĩ mô, với tư cách là bệ đỡ cho hoạt động ngân hàng.

Nhìn chung, các hãng xếp hạng này đều có đánh giá tích cực về môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam hiện nay và mội hai năm tới. Những yếu tố tích cực thường được liệt kê ra gồm tăng trưởng kinh tế cao, được hậu thuẫn bởi dòng vốn FDI chảy vào mạnh và xuất khẩu tăng trưởng khả quan, trong khi lạm phát được kiềm chế ở mức thấp.

Có hãng xếp hạng thì kể thêm yếu tố tích cực khác là đồng nội tệ tương đối ổn định và tiêu dùng nội địa tăng trưởng tốt, trong khi hãng khác thì bình luận thêm rằng mặc dù TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái BÌnh Dương) đã đổ vỡ, khiến Việt Nam mất đi một cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng điều này được bù lại bởi làn sóng FDI đã chảy vào mạnh đón đầu trước đó nên sự đổ vỡ của TPP cũng không gây ra nhiều thiệt hại cho Việt Nam.

Bên cạnh những nhìn nhận tích cực, các hãng xếp hạng cũng chỉ ra một số điểm tiêu cực về môi trường vĩ mô, trong đó có mức vay nợ của nền kinh tế nói chung và của Chính phủ nói riêng đang ở mức cao và tiếp tục tăng lên mạnh, bất chấp nỗ lực củng cố tài khóa của Chính phủ, gây áp lực lên chính sách bình ổn vĩ mô của Chính phủ gồm kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá.

Về tình hình sức khỏe của hệ thống ngân hàng thương mại, các hãng xếp hạng đều có một số nhận xét và quan ngại giống nhau. Cụ thể, so với mức tăng trưởng tín dụng được coi là lành mạnh, bình thường (16%-18%/năm, bằng từ 1,2 lần đến 1,5 lần tăng trưởng GDP theo giá hiện hành, tùy thuộc tiêu chuẩn của từng hãng) xét trong bối cảnh không làm tăng thêm ra các rủi ro cho sự tăng trưởng của hệ thống ngân hàng thì mục tiêu tăng trưởng tín dụng trên 20%, thậm chí 22% của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đặt ra gần đây được cho là “quá nhanh”, thậm chí có hãng còn gọi là “đáng sợ”.

Giải thích về quan ngại của mình về tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, các hãng xếp hạng cho rằng tăng trưởng tín dụng cao trong bối cảnh gánh nặng nợ của Việt Nam đang gia tăng sẽ tạo ra thêm nhiều thách thức phải giải quyết, bao gồm sự hình thành các bong bóng tài sản, nền tảng vốn của ngân hàng tiếp tục suy yếu thêm từ mức thấp so với khu vực như hiện nay, biên độ lợi nhuận ngân hàng tiếp tục bị co hẹp do các ngân hàng phải cạnh tranh gay gắt giành và giữ thị phần, và tín dụng tiếp tục đổ vào những lĩnh vực có rủi ro cao như đầu cơ bất động sản, chứng khoán v.v… Cứ tiếp tục như vậy thì khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng khác ở Việt Nam là rất cao trong vòng vài năm tới, bất chấp nền kinh tế vẫn tăng trưởng tốt.

Về chất lượng tài sản, được thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu, các hãng nhìn chung đều phải đánh giá lại tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng mà họ có xếp hạng ở Việt Nam bằng cách tính gộp vào nợ xấu báo cáo bởi các ngân hàng giá trị phần trái phiếu mà họ đã bán cho VAMC cũng như tính thêm cả phần dư nợ được phân loại trong nhóm “chú ý đặc biệt”. Tỷ lệ nợ xấu thực tế mà họ tính ra được là cao hơn rất nhiều so với mức dưới 3% phần lớn các ngân hàng báo cáo trên sổ sách.

Với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong năm nay và có thể là các năm tới thì một mặt, điều này sẽ giúp giảm tỷ lệ nợ xấu. Nhưng mặt khác, tăng trưởng tín dụng cao sẽ có xu hướng tạo ra thêm nợ xấu (do cho vay nhiều hơn các lĩnh vực và đối tượng dưới chuẩn) nên rốt cuộc sẽ tạo ra sự bất trắc về tỷ lệ nợ xấu, và không nhất thiết là tỷ lệ nợ xấu sẽ giảm đi trong năm nay và những năm sau bất chấp các nỗ lực giải quyết nợ xấu của nhà nước gồm Nghị quyết về xử lý nợ xấu mới được thông qua gần đây. Nhìn chung, các hãng đều kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam ổn định hoặc chỉ giảm nhẹ trong thời gian tới.
Lợi nhuận tăng trưởng thấp, không tương xứng với tăng trưởng GDP của Việt Nam cũng được chỉ ra như một trong những điểm tiêu cực về hệ thống ngân hàng Việt Nam. Những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng lợi nhuận gồm trích lập dự phòng rủi ro cao và sự cạnh tranh gay gắt giành giật thị phần giữa các ngân hàng dẫn đến thu hẹp biên độ lợi nhuận của các ngân hàng.

Về triển vọng lợi nhuận trong các năm tới, các hãng xếp hạng đều chung nhận xét rằng các ngân hàng Việt Nam đều đang tích cực đẩy mạnh bán lẻ và cho vay tiêu dùng trong bối cảnh khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhà nước đã nợ nần quá nhiều, khó đẩy mạnh cho vay thêm được. Xu hướng này sẽ giúp cải thiện biên độ lợi nhuận của các ngân hàng Việt Nam.

Tuy nhiên, các hãng xếp hạng cũng lưu ý rằng do bán lẻ và cho vay tiêu dùng thường không có thế chấp hoặc có thế chấp bằng bất động sản nên đẩy mạnh cho vay những lĩnh vực này có khả năng làm tăng nợ xấu nếu công tác quản lý rủi ro không được thực thi tốt. Họ cũng cảnh báo thêm rằng vì đẩy mạnh cho vay vào những lĩnh vực này là chiến lược phát triển tại nhiều ngân hàng nên điều này dẫn đến làm tăng sự cạnh tranh, tạo áp lực lên tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng trong những năm tới. Đồng thời, tăng trưởng tín dụng nhanh song song với đẩy mạnh cho vay vào những lĩnh vực rủi ro hơn như cho vay tiêu dùng sẽ tạo ra thêm nợ xấu nên buộc các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng nợ xấu, và điều này sẽ hạn chế mức độ cải thiện lợi nhuận của các ngân hàng.

Về vai trò của các cơ quan quản lý, các hãng xếp hạng cho rằng cơ quan chức năng biết rõ những gì đang xảy ra và cần phải làm gì, nhưng họ đang hành động khá chậm, một phần do đặc tính chính sách ở Việt Nam là do tập thể quyết định. Chất lượng làm chính sách cũng không cao, với các chính sách thiếu nhất quán. Tác động của các chính sách lên hoạt động ngân hàng được cho là “vey mixed” (gây ra nhiều tác động trái chiều nhau, cả tốt lẫn xấu).

Friday, 15 September 2017

Mạo hiểm khi thay đổi giá tính thuế TTĐB đối với ô tô (Bài đăng trên TBKTSG, 16/9/2017)


http://www.thesaigontimes.vn/164594/Mao-hiem-khi-thay-doi-gia-tinh-thue-TTDB-doi-voi-o-to.html

Trong dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung các luật thuế mà Bộ Tài chính đang đưa ra lấy ý kiến có đề xuất về thay đổi giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đối với ô tô sản xuất trong nước. Theo đó, giá tính thuế TTĐB đối với mặt hàng ô tô từ chín chỗ ngồi trở xuống sản xuất trong nước là giá do cơ sở sản xuất bán ra trừ đi giá trị linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước.

Hiện tại, theo khoản 1, điều 6 Luật Thuế TTĐB, giá tính thuế TTĐB là giá bán ra của cơ sở sản xuất (không trừ giá trị linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước). Các nhà làm luật hy vọng cách tính mới này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tạo điều kiện cho hàng sản xuất trong nước cạnh tranh được với hàng nhập khẩu.

Về bản chất, có thể nói ngay rằng việc thay đổi giá tính thuế TTĐB theo hướng có lợi cho ô tô sản xuất trong nước là một hành vi phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất nội địa và hàng nhập khẩu. Do có lợi cho hàng sản xuất nội địa nên các quốc gia đều mong muốn áp đặt các biện pháp mang tính phân biệt đối xử càng sớm, càng lâu thì càng tốt. Tuy nhiên, trên thực tế họ có nên làm như vậy hay không, và có được phép làm như vậy hay không thì lại là một vấn đề khác.

Bảo hộ là con dao hai lưỡi

Có lẽ kết luận trên đúng nhất với chính ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam. Sau hàng chục năm được bảo hộ với đủ loại chính sách ưu đãi về thuế, phí, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam có thể nói gọn lại là vẫn chưa lớn được, nếu không tiếp tục được bảo hộ sẽ nhanh chóng chết yểu. Điều này thể hiện rõ qua việc các hãng sản xuất ô tô của nước ngoài ở Việt Nam sẵn sàng chuyển sang nhập khẩu thay vì sản xuất trong những năm tới khi thuế suất nhập khẩu ô tô nguyên chiếc hạ đến mức thấp nhất theo các cam kết quốc tế.

Thực tế trên không có gì là lạ. Điều lạ là các nhà làm chính sách Việt Nam vẫn tiếp tục muốn bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước, đặc biệt là bằng những cách thức mang tính phân biệt đối xử rõ ràng như trên, vốn có thể sẽ gây ra thêm hậu quả không mong muốn như nói thêm ở phần sau.


Dù theo lý thuyết, khi được áp dụng giá tính thuế TTĐB có lợi, các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước sẽ chuyển sang dùng, và/hoặc kích thích sự phát triển của công nghiệp phụ trợ ngành ô tô ở Việt Nam. Nhưng để công nghiệp phụ trợ ngành ô tô phát triển thì chỉ với điều này là chưa đủ. Công nghiệp phụ trợ ngành ô tô chỉ phát triển được khi có quy mô thị trường, tức số lượng ô tô tiêu thụ, đủ lớn. Nhưng sự mâu thuẫn, chồng chéo trong các chính sách liên quan đến ô tô ở Việt Nam làm cho thị trường ô tô vẫn tiếp tục èo uột với lượng ô tô tiêu thụ còn quá nhỏ so với dân số gần trăm triệu người, chỉ bằng một phần so với những nước trong khu vực như Indonesia và Thái Lan. Vậy cũng không nên hy vọng với thay đổi về giá tính thuế TTĐB sẽ có một làn sóng đầu tư từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước ồ ạt rót vốn vào công nghiệp phụ trợ.

Cũng cần thừa nhận rằng chính sách bảo hộ trên vẫn làm lợi cho một số nhà sản xuất trong ngành công nghiệp phụ trợ khi nhà sản xuất, lắp rắp ô tô nội địa sẵn sàng trả giá cao hơn (so với nhập khẩu) cho sản phẩm của các doanh nghiệp phụ trợ này để hưởng lợi từ giá tính thuế TTĐB thấp đi. Hậu quả là chất lượng ô tô nội địa tiếp tục bị ảnh hưởng (do chất lượng linh kiện, phụ tùng khó bằng sản phẩm nhập khẩu, ít nhất là bởi số lượng nhà cung cấp có hạn so với nguồn cung từ nhập khẩu), trong khi giá thành thì tiếp tục bị đội lên so với trước khi thay đổi giá tính thuế TTĐB. Điều này không chỉ có nghĩa là người tiêu dùng trong nước tiếp tục “lãnh đủ”, quy mô thị trường tiếp tục èo uột, mà còn có nghĩa là tiếp tục đặt ngành ô tô nội địa trong thế thụ động, sống mòn dưới chiếc ô bảo hộ chứ chưa nói đến chuyện viển vông, xa vời là ngày nào đó vươn mình lớn dậy, xuất khẩu được sản phẩm của mình ra thế giới.

Phân biệt đối xử sẽ bị trả đũa

Việc áp đặt giá tính thuế TTĐB có lợi cho ô tô nội địa sẽ phải đối mặt với rủi ro bị kiện tụng và bị trả đũa hay trừng phạt bởi các nước đối tác. Nguyên tắc đối xử quốc gia là một nguyên tắc xương sống trong thỏa thuận của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) mà Việt Nam là một thành viên. Theo đó, các nước thành viên WTO không được đối xử phân biệt giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu. Điều này là để ngăn chặn tình trạng nước A hạ thuế nhập khẩu cho sản phẩm X từ 10% xuống 5% nhưng lại tìm cách nâng các loại thuế khác đánh lên sản phẩm này có nguồn gốc từ nhập khẩu thêm 5% (chẳng hạn là nâng thuế suất thuế tiêu thụ) để rốt cuộc sản phẩm X nhập khẩu vẫn phải chịu 10% thuế như ban đầu.

Và tuy WTO có một số điều khoản ngoại lệ cho việc phân biệt đối xử như trợ cấp cho nhà sản xuất nội địa, bảo hộ bằng thuế mang tính phân biệt trong trường hợp một nước kém phát triển muốn khuyến khích một ngành công nghiệp non trẻ nào đó... nhưng Việt Nam hiện xem ra chẳng đáp ứng được bất cứ điều kiện nào để được phép áp dụng những ngoại lệ này trong việc, ví dụ, áp giá tính thuế TTĐB khác nhau giữa ô tô nội địa và ô tô nhập khẩu.

Trong khi chưa thấy các bộ liên đới có mấy giải trình về khả năng bị kiện tụng, trả đũa bởi các nước đối tác chịu thiệt hại từ hành động đơn phương này của Việt Nam thì có một số chuyên gia lên tiếng coi nhẹ khả năng xảy ra kiện tụng với những lý giải không xác đáng
(1). Sự lơ là, khinh xuất này có khả năng gây ra hậu quả lớn cho Việt Nam nếu đề xuất thay đổi về giá tính thuế TTĐB vẫn cứ được thông qua và có hiệu lực.

-----------
(1) Xem, ví dụ, http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/thue-tieu-thu-dac-biet-giam-o-to-lap-rap-trong-nuoc-re-theo-379143.html

Thursday, 14 September 2017

Lạm phát họp vì đâu? (Bài đăng trên TBKTSG, 14/9/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/164582/Lam-phat-hop-vi-dau.html

Tôi là người ít phải, ít được (dịp) họp hành, kể cả thời gian mấy năm làm việc trong nước (và trong cơ quan nhà nước) lẫn thời gian dài làm ở nước ngoài sau này. Không bàn đến chuyện đây có phải là điều tốt hay không, nhưng tôi thấy cái sự họp nhiều, nhất là ở các cơ quan nhà nước, đến mức mà Chủ tịch TP. Hồ Chí Minh đã phải thốt lên yêu cầu “Họp ít thôi!”, không phải tự nhiên mà có.

Lý do phải họp nhiều đầu tiên là do cách tổ chức công việc kém, người nọ dẫm chân lên người kia, phòng nọ dẫm chân lên phòng kia nên phải họp để biết mà không… dẫm chân lên nhau, kể cả trong công việc hàng ngày. Sự tổ chức công việc kém còn làm cho các nhân viên và phòng ban không có sự độc lập tương đối trong công việc, không tự mình triển khai công việc mà không phải bàn bạc, hỏi, phụ thuộc người khác, phòng khác, cơ quan khác.

Họp nhiều cũng bởi chiến lược, sách lược, chính sách, chủ trương, luật lệ v.v… không rõ ràng, minh bạch nên để tránh tình trạng mỗi người hiểu một kiểu thì buộc phải họp để làm rõ, thống nhất và triển khai.


Họp nhiều đôi khi là hậu quả của việc muốn mượn danh hay huy động sức mạnh tập thể để phục vụ một mục đích, một công việc nào đó mà ít (nhóm) cá nhân nào muốn và đủ sức tiến hành một mình, dù có quyền đi chăng nữa. Nếu số vụ việc nhiều, cần nhiều quyết định tập thể thì số cuộc họp cứ thế mà tăng lên cho tương xứng.
Họp nhiều còn bởi một số cá nhân, nhất là những người tổ chức họp, muốn chứng tỏ mình quan trọng, có quyền lực cũng như có trách nhiệm “lắng nghe tâm tư nguyện vọng” của nhân viên. Quả thật, đôi khi họp hành cũng ra được vấn đề, cũng giải quyết được các phát sinh, vướng mắc trong công việc. Nhiều khi có qua các cuộc họp thì sếp mới biết cấp dưới, đồng nghiệp mới biết đồng nghiệp đang làm gì, đến đâu, cần hợp tác, định hướng, chấn chỉnh thế nào v.v…


Cũng khá phổ biến là họp là dịp để tiêu tiền, nhất là tiền ngân sách, với đủ lý do từ vô bổ đến… hơi hơi có ích như họp mặt truyền thống (ngành, công ty), họp nghe phổ biến chính sách mới, hội nghị tập huấn, họp các loại đoàn thể, chi bộ, hội ở địa phương và ngành, liên ngành, tổ/nhóm công tác, họp mặt chào mừng vị A, vị B đến thăm và làm việc tại đơn vị v.v… Họp xong thì đương nhiên là một số tiền không nhỏ sẽ mất đi dưới dạng quà cáp, phong bì, và chui vào túi những người tổ chức.
Đó là chưa kể, họp là một cái cớ cực tốt để trốn việc, làm việc riêng, đi đây đi đó, giao du, tạo quan hệ, quen biết người này, đối tác kia, dễ đem đến quan hệ làm ăn, mánh mung, hoặc đơn giản chỉ là để ra oai, với xe cộ đưa đón, tùy tùng phục dịch. Nên nói chung là có nhiều người thích… (đi) họp!


Tóm lại, danh sách các nguyên nhân dẫn đến họp nhiều chắc không chỉ dừng lại ở đây. Qua đó, để hạn chế các cuộc họp vô bổ, không cần thiết thì, như trên đã chỉ ra, trước tiên cần tổ chức tốt công việc, phân công và gắn trách nhiệm cụ thể cho cá nhân và tập thể, minh bạch hóa, chuẩn hóa, nâng cấp chất lượng các chủ trương, chính sách, phương hướng hoạt động để tránh những vùng xám, những nội dung tùy nghi diễn giải v.v…
Ứng dụng công nghệ viễn thông, tin học sẽ làm giảm đáng kể các cuộc họp vật lý mà thay vào đó là các thư điện tử, thông báo, trao đổi thông tin nội bộ, họp qua điện thoại, video. Nhân chuyện này cũng xin kể lại một trải nghiệm “thú vị” của tôi với các quan chức nhà nước. Do đòi hỏi của công việc, đôi lúc tôi cần thu xếp các cuộc gặp với các bộ. Theo thông lệ, tôi gửi email đến các địa chỉ công bố để xin hẹn gặp nhưng đa phần là không có hồi âm. Bước tiếp theo là gọi điện trực tiếp đến đơn vị để “trần tình” và xin gặp thì được biết là các vị này chẳng bao giờ kiểm tra email! Suy rộng ra, tin học hóa các cơ quan nhà nước có tác dụng khá hạn chế.


Một cách làm giảm các cuộc họp vô bổ là thắt chặt chi tiêu ngân sách, khoán chi phí, phân loại và thực hiện nghiêm tiêu chuẩn giải ngân, chi tiêu cho các cuộc họp. Những hoạt động tương tự như kỷ niệm ngành, gặp mặt truyền thống v.v… không mang tính chuyên môn, liên quan đến công việc và chức năng cần được hạn chế tối đa.
Để kết thúc, xin nói là ở nước ngoài người ta cũng họp hành nhiều. Ngay trong cơ quan tôi, các phòng họp (thường có phương tiện đàm thoại video) không mấy khi trống, và thường rất chật vật để đăng ký phòng họp. Cũng không thể nói tất cả các cuộc họp rốt cuộc đều là bổ ích, cần thiết. Trong một số cuộc họp có độ chục người ngồi bàn tròn đối mặt nhau mà thậm chí có người ngủ gật hoặc những người khác qua cách họ ngồi có thể thấy là ngồi để cho có, cho xong chuyện. Có điều, hầu như ai cũng ý thức rõ trách nhiệm của mình khi triệu tập họp, yêu cầu người khác họp với mình, trên tinh thần vì công việc chung, có mục đích cụ thể và không (thể) vụ lợi.

Wednesday, 13 September 2017

Việt Nam và giấc mơ ô tô thương hiệu Việt (Bài đăng trên TBKTSG, 13/9/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/164350/Viet-Nam-va-giac-mo-o-to-thuong-hieu-Viet.html

Từ những liên doanh lắp ráp ô tô đầu tiên hình thành trong thập kỷ 90 đến nay, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã trải qua chặng đường hai chục năm có lẻ, tuy không thể gọi là dài nếu so với lịch sử ngành công nghiệp ô tô thế giới trên trăm năm tuổi, nhưng cũng không thể gọi là ngắn nếu so với thời gian cần thiết để một ngành công nghiệp hoặc một quốc gia có thể cất cánh trên con đường phát triển.
Quy mô thị trường


Nhìn lại, bất chấp tốc độ tăng trưởng khá cao về số lượng ô tô lắp ráp, nhập khẩu và tiêu thụ, cho đến nay thành tích của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam còn rất mờ nhạt. Nếu đo thành tích này bằng số lượng ô tô sở hữu trên 1000 dân thì Việt Nam đứng ở vị trí 151 trên tổng số 191 quốc gia và vùng lãnh thổ vào năm 2014, với mức 23 chiếc/1000 dân (1), thậm chí còn thấp hơn hàng loạt nước kém phát triển có mức GDP bình quân trên đầu người thấp hơn và cơ sở hạ tầng yếu kém hơn Việt Nam như Sudan, Djibouti, Bhutan, Madagascar, Congo, Afghanistan, Yemen... Trong khu vực ASEAN, vị trí này của Việt Nam chỉ cao hơn một chút so với Lào (20 chiếc), Campuchia (22 chiếc), và thấp hơn tất cả các nước còn lại như Philippines (30 chiếc), Indonesia (60 chiếc), Singapore (149 chiếc), Thái Lan (206 chiếc) và Malaysia (361 chiếc). Và cho dù các năm tiếp theo đó, 2015-2016, tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp ô tô vẫn đứng ở mức 2 con số thì sự thay đổi về vị trí thứ hạng của ngành này ở Việt Nam so với khu vực và thế giới chắc cũng không có biến chuyển đột xuất so với thứ hạng năm 2014.
Thực tế trên cho thấy trước hết một điều là mức thu nhập đầu người không phải là một yếu tố chủ chốt và duy nhất quyết định đến mức độ sở hữu ô tô hay là chỉ dấu cho tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp ô tô nội địa của bất cứ một quốc gia nào. Điều này cũng có nghĩa là không thể lấy lý do Việt Nam còn là nước nghèo (hoặc chính xác hơn, là nước có thu nhập trung bình thấp) để đổ lỗi cho sự “còi cọc” của ngành công nghiệp ô tô nói riêng và thị trường  ô tô nói chung ở Việt Nam.


Lỗi tại chính sách
Với một thị trường ô tô có số lượng tiêu thụ và sở hữu tính theo dân số ở mức thấp như Việt Nam thì nguyên nhân đầu tiên có thể nghĩ đến là chính sách hạn chế sở hữu ô tô để nhằm các mục đích như bảo vệ môi trường, giảm áp lực lên cơ sở hạ tầng đã và đang bị quá tải… Những chính sách đã được thi hành hoặc đang được đề xuất thi hành như tăng thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu, lệ phí trước bạ đều cho thấy dường như có xu hướng hạn chế sự phát triển của thị trường ô tô ở Việt Nam, đối với cả ô tô nội địa và ô tô nhập khẩu.


Một yếu tố khác cản trở sự phát triển của thị trường ô tô Việt Nam không thể không kể đến là mức “sưu cao thuế nặng” đánh lên việc sở hữu ô tô (cả nội địa và nhập khẩu) về bản chất là nhằm nuôi ngân sách nhà nước, đặc biệt là trong bối cảnh thuế quan nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam đã và đang bị giảm mạnh theo các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương nên Nhà nước phải tìm cách bù vào bằng việc tăng các loại phí thuế áp dụng với ô tô và các hàng hóa nói chung khác.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào mục tiêu chiến lược đặt ra cho ngành công nghiệp ô tô nội địa thì thấy các nhà hoạch định chính sách cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đặt ra những con số mục tiêu tham vọng không chỉ về tỷ trọng sản xuất, lắp ráp trong nước ngày càng tăng so với tổng sản lượng ô tô tiêu thụ trong nước (gồm nhập khẩu) mà còn về bản thân con số tổng sản lượng ô tô tiêu thụ (đạt 227.500 chiếc năm 2020, tăng lên 466.400 chiếc năm 2025 và 1.531.400 chiếc năm 2030) (2). Các chính sách ưu đãi dành cho ngành sản xuất, lắp ráp ô tô nội địa và công nghiệp phụ trợ trong nước cũng được thiết kế theo hướng nhằm tăng cường năng lực và sản lượng sản xuất, láp rắp của các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô nội địa để tăng quy mô thị trường với tỷ trọng ngày càng tăng của ô tô nội địa.


Như vậy, có thể nói rằng chiến lược phát triển ngành ô tô Việt Nam không những không hề có chút e ngại nào về các tác động tiêu cực có thể có của việc sử dụng ô tô lên môi trường và hạ tầng mà, ngược lại, còn ra sức khuyến khích sự phát triển ngành này ở Việt Nam.
Phân tích trên cho thấy mâu thuẫn trong mục tiêu chính sách – vừa muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô, thị trường ô tô, vừa muốn tăng thu, tận thu thật nhiều từ ngành này – là một trong những nguyên nhân chính làm cho ngành công nghiệp ô tô nội địa phát triển chật vật dưới tiềm năng, lệch lạc, không chỉ làm thiệt hại người tiêu dùng mà còn làm tổn hại ngay chính ngân sách khi thu từ thuế phí lên ô tô hiện tại dựa trên sản lượng tiêu thụ khiêm tốn và sức lan tỏa hạn hẹp của ngành sản xuất, lắp ráp ô tô nội địa ra toàn ngành kinh tế sẽ không thể so sánh được với khi quy mô thị trường  và mức độ lan tỏa ra nền kinh tế của ngành ô tô ở giai đoạn phát triển cao hơn.


Để giấc mơ không mãi là giấc mơ 
Thị trường ô tô Việt Nam ngày càng trở nên chật hẹp, cạnh tranh và khó khăn hơn với ngay cả những nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới và khu vực, đến mức mà một số nhà sản xuất như Toyota đã sẵn sàng ngừng sản xuất, lắp ráp ở Việt Nam để nhập khẩu sản phẩm hoàn chỉnh trong những năm tới. Nhưng những điều này dường như không dập tắt được giấc mơ phát triển ô tô nội địa/thương hiệu Việt, dù đã có những tấm gương về sự thất bại.  Mới đây, Vingroup đã công bố dự án tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast với mục tiêu ra mắt ô tô thương hiệu Việt vào năm 2019 và trở thành nhà sản xuất hàng đầu trong khu vực với sản lượng dự kiến hàng trăm nghìn chiếc ở giai đoạn 1.   


Tuy dự án trên và một số dự án phát triển ô tô nội địa khác đã nhận được sự tán đồng và ủng hộ của Chính phủ nhưng điều này cần được cụ thể hóa trước tiên bằng việc Chính phủ nhất quán về chủ trương, chính sách của mình với ngành ô tô. Như trên đã phân tích, nếu muốn phát triển ngành ô tô thì điều kiện tiên quyết là phải hạ thấp và bãi bỏ các rào cản nhằm hạn chế sự phát triển về quy mô của thị trường ô tô ở Việt Nam. Chính quy mô của thị trường mới là lực hấp dẫn lớn nhất lôi kéo những nhà đầu tư trong nước như Vingroup tính toán và đầu tư vào ngành này trong nước. Quy mô thị trường sẽ giúp họ tìm được phân khúc thị trường phù hợp, tăng hiệu quả kinh tế nhờ quy mô của dự án, hỗ trợ sự phát triển của công nghiệp phụ trợ trong nước.
Đương nhiên, song hành với nỗi lo hạ thấp phí thuế sẽ là nỗi lo cố hữu về sự chết yểu của ô tô nội địa trước làn sóng ô tô nhập khẩu giá rẻ. Nhưng trong bối cảnh hiện tại và sắp tới thì đây sẽ là một thực tế phải chấp nhận vì những gì diễn ra trong suốt hơn hai chục năm qua cho thấy bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước bằng thuế phí và các rào cản phi thuế quan là vô tác dụng và gây tổn thất lớn cho người tiêu dùng và ngân sách. Ngược lại, sự tự tin và kế hoạch đầu tư bài bản của các nhà đầu tư tư nhân trong nước như Vingroup cho thấy vẫn có nhiều cơ hội cho nhà đầu tư (trong nước) nghiêm túc, có tiềm lực, kinh nghiệm và mạng lưới, hoạt động trong một thể chế minh bạch, nhất quán.




(2)    http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/cong-nghiep-oto-20-nam-van-mot-nga-ba-duong-3205082.html

Sunday, 10 September 2017

Thấy gì qua động thái Kho bạc gửi hơn 160 nghìn tỷ đồng ở ngân hàng? (Bài đăng trên CafeF, 10/9/2017, bản gốc)

http://cafef.vn/thay-gi-qua-dong-thai-kho-bac-gui-hon-160-nghin-ty-dong-o-ngan-hang-20170910145749518.chn

Thông tin mới đây cho thấy tính đến cuối tháng 8, Kho bạc Nhà nước đã gửi khoảng 160 nghìn tỷ đồng tại các ngân hàng thương mại, trong đó có mặt các ngân hàng có vốn của nhà nước, bên cạnh một số ngân hàng thương mại cổ phần khác.

Nhận định về tác động của việc này, một số ý kiến cho rằng nguồn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước giúp các ngân hàng thương mại có thêm nguồn lực để ổn định thanh khoản, qua đó gián tiếp làm giảm áp lực lên lãi suất. Đồng thời, nhờ có nguồn vốn dồi dào này nên các ngân hàng có điều kiện để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.

Nhận định trên là không thỏa đáng vì đã đơn giản hóa vấn đề và bỏ qua nhiều thực tế.

Thanh khoản chẳng thay đổi

Hãy hình dung trước khi Kho bạc Nhà nước phát hành trái phiếu, trong nền kinh tế đang có 1000 đồng thanh khoản sẵn sàng để cho vay. Giả sử thêm là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không can thiệp gì thêm vào cung tiền, để nền kinh tế tự xoay sở với số thanh khoản 1000 đồng này.

Khi Kho bạc phát hành 500 đồng trái phiếu cho các ngân hàng thương mại mua vào qua đấu giá, các ngân hàng phải bỏ ra 500 đồng từ thanh khoản của mình để mua số trái phiếu này. Kết cục lượng thanh khoản còn lại có thể cho vay ra nền kinh tế chỉ là 500 đồng.
Nay, khi Kho bạc “ế” vốn, buộc phải đem số tiền 500 đồng là số tiền thu được từ bán trái phiếu gửi vào ngân hàng để vớt vát được tiền lãi cho khỏi phí, điều này làm cho hệ thống ngân hàng có thêm 500 đồng thanh khoản. Như vậy, lượng thanh khoản có thể dùng để cho vay ra nền kinh tế sẽ quay trở lại thành 1000 đồng như lúc ban đầu, trước khi Kho bạc bán trái phiếu.

Nếu Kho bạc giải ngân được một phần trong số 500 tỷ đồng huy động được này thì đương nhiên lượng tiền gửi của Kho bạc tại các ngân hàng thương mại sẽ giảm xuống thấp hơn con số 500 đồng, chẳng hạn là 400 đồng (vì 100 đồng đã được giải ngân). Nói cách khác, tổng lượng thanh khoản trong nền kinh tế sẽ giảm xuống còn 900 đồng.

Như vậy, việc Kho bạc Nhà nước huy động vốn xong rồi lại đem gửi ngược vào ngân hàng sẽ không cải thiện được thanh khoản chút nào, và thậm chí, ngược lại, còn làm giảm thêm thanh khoản đi nếu Kho bạc đã “kịp” giải ngân một phần vốn huy động này. Ngoài ra, do thanh khoản không thay đổi hoặc thậm chí còn giảm đi, nên các ngân hàng không thể đẩy mạnh cho vay, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng như một số ý kiến vẫn nhận định.

Tất nhiên nếu xét từ thời điểm sau khi Kho bạc nhà nước đã phát hành trái phiếu và hút tiền về làm giảm thanh khoản (giảm 500 đồng như ví dụ trên), sau đó nếu Kho bạc nhà nước gửi trở lại ngân hàng số tiền huy động này thì về mặt nào đó có thể nói là hỗ trợ, ổn định thanh khoản nhưng việc ổn định, hỗ trợ này chỉ là sự “tự cởi trói” thì đúng hơn.

Khi NHNN phải “hỗ trợ”…

Trong giả định ở phần trên, NHNN không can thiệp gì vào cung tiền. Nhưng do Chính phủ luôn yêu cầu NHNN – một ngân hàng trung ương không độc lập với Chính phủ như ở các nước khác – phải “điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt” để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tức là gián tiếp yêu cầu NHNN phải hỗ trợ thanh khoản để hệ thống ngân hàng thương mại có thêm vốn mua trái phiếu Chính phủ, nên trên thực tế NHNN thường phải nới lỏng chính sách tiền tệ để bơm thêm thanh khoản vào hệ thống ngân hàng để cung ứng đủ vốn đáp ứng nhu cầu huy động của Kho bạc Nhà nước qua phát hành trái phiếu.

Trước kế hoạch của Kho bạc Nhà nước huy động một lượng vốn “khủng”, trên 240 nghìn tỷ đồng qua phát hành trái phiếu năm nay (và đã huy động được 204.500 tỷ đồng tính đến giữa tháng 8), rõ ràng NHNN không thể ngồi nhìn thanh khoản trên thị trường căng rồi đẩy lãi suất liên ngân hàng và các loại lãi suất huy động khác tăng lên. Vậy là một lượng vốn không hề nhỏ đã được NHNN bơm thêm vào nền kinh tế để phục vụ nhu cầu của Kho bạc. Chưa bàn đến lượng vốn mới này đi về đâu, bản thân việc NHNN bơm thêm một lượng tiền như vậy đã tạo ra thêm áp lực lạm phát. Nay, việc giải ngân của Kho bạc bị chậm trễ càng làm tăng thêm cái giá phải trả cho nền kinh tế, vì không những gây tổn thất cho chính ngân sách mà còn làm nhỡ các cơ hội đầu tư tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Rắn tự ăn đuôi

Việc Kho bạc Nhà nước huy động vốn xong lại gửi vào ngân hàng hưởng lãi cũng tương tự như việc một con rắn tự ăn đuôi mình. Không rõ kỳ hạn và loại hình tiền gửi của Kho bạc tại các ngân hàng thương mại cụ thể là như thế nào nhưng chắc chắn trong đó có có các khoản tiền gửi không kỳ hạn hoặc kỳ hạn ngắn. Điều này có thể là do việc chậm trễ giải ngân vốn cho các dự án đầu tư công có thể được khắc phục trong các thời điểm khác nhau, không dự tính trước được (ngay đến kế hoạch giải ngân đầu tư công lúc ban đầu cũng đã không thực hiện được, bị chậm trễ). Lúc đã thông thì các dự án này lập tức sẽ cần vốn. Do đó, Kho bạc buộc phải gửi ít nhất là một phần đáng kể vốn “ế” dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn hoặc ngắn hạn để sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu giải ngân vốn đột xuất. Nhìn rộng ra, mục đích huy động vốn qua phát hành trái phiếu là để chi tiêu công chứ không phải gửi tiết kiệm vào ngân hàng, nên sự gửi tiền ấy, nếu có, cũng chỉ là tạm thời và kỳ hạn ngắn.

Lãi suất trúng thầu trái phiếu biến động tùy thời điểm, nhưng tính sơ bộ thời gian gần đây cũng khoảng mức 5%/năm (ví dụ, lãi suất trúng thầu trái phiếu kỳ hạn 5 năm phát hành vào tháng 7 thấp ở mức kỷ lục nhưng cũng đã là 4,69%/năm, còn trước đó vào đầu tháng 5, lãi suất trúng thầu cho cùng loại trái phiếu đứng ở mức 5,22%/năm). Nếu Kho bạc Nhà nước đem gửi số tiền này vào ngân hàng, nhất là những ngân hàng thương mại có vốn nhà nước lớn vốn thường chỉ chào lãi suất huy động thấp hơn hẳn các ngân hàng thương mại cổ phần khác (kỳ hạn ngắn của 3 ngân hàng lớn nhất chỉ từ 4,3 - 5,2%/năm) thì lãi suất được hưởng thậm chí sẽ còn thấp hơn cả lãi suất mà Kho bạc huy động từ các ngân hàng. Như thế, lợi đâu chưa thấy, chỉ thấy trước mắt là ngân sách bị ảnh hưởng vì lãi tiền gửi thu về không đủ bù cho lãi phải trả cộng thêm chi phí phát hành trái phiếu.

Wednesday, 30 August 2017

Tác động gì có thể xảy ra khi giãn lộ trình giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn? (Bài đăng trên CafeF, 30/8/2017)

http://cafef.vn/tac-dong-gi-co-the-xay-ra-khi-gian-lo-trinh-giam-ty-le-su-dung-von-ngan-han-cho-vay-trung-dai-han-20170830162616053.chn

Ngân hàng nhà nước (NHNN) đang đưa ra lấy ý kiến góp ý cho Dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 36/2014/TT-NHNN (Sau đây gọi tắt là Dự thảo) quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn cho hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Xoay quanh câu chuyện này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Phan Minh Ngọc, chuyên gia kinh tế tài chính.


PV: Thưa ông vì sao NHNN lại đưa Thông tư 36 ra sửa đổi khi chỉ còn 4 tháng nữa là áp dụng các quy định mới về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo lộ trình?
TS. Phan Minh Ngọc: Cần lưu ý rằng, Thông tư 36 đã được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư số 06/2016/TT-NHNN hồi tháng 6 năm ngoái. Theo Thông tư 06 từ ngày 1/1/2017 đến ngày 31/12/2017, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung hạn của các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng hợp tác xã được giảm xuống mức 50% và giảm tiếp xuống 40% từ ngày 1/1/2018. Tỷ lệ tương ứng của các tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng là 90% trong năm 2017 và 80% kể từ đầu năm 2018.


Còn theo Dự thảo lần này, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ chỉ giảm xuống còn 45% kể từ đầu năm 2018 và sẽ giảm tiếp xuống mức 40% kể từ đầu năm 2019. Các TCTD phi ngân hàng vẫn được giữ nguyên tỷ lệ này ở mức 90%.
Bên cạnh đó, Dự thảo nâng tỷ lệ tối đa mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ so với nguồn vốn ngắn hạn của các ngân hàng thương mại nhà nước lên 25% từ mức 15% như quy định hiện hành. Mức này của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được đề xuất nâng lên 35% từ 15%...


Bối cảnh cho những thay đổi trên, theo NHNN là Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 9/6/2107 của Chính phủ yêu cầu NHNN phối hợp chặt chẽ với một số bộ khác để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, phấn đấu tăng trưởng tín dụng năm 2017 vượt mức kế hoạch 18% và điều chỉnh hạn mức tín dụng cho vay trung dài hạn của các TCTD…


Có nhiều ý kiến đã phân tích về những nguyên nhân rồi dự đoán tác động của việc thay đổi. Còn ông đánh giá ra sao về sự thay đổi này, ai sẽ là những người được hưởng lợi nhiều nhất?
Theo ước tính của Công ty chứng khoán VCBS, tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài hạn của hệ thống hiện nay vào khoảng 45%. Nếu ước tính này là đúng thì đương nhiên các đối tượng hưởng lợi đầu tiên là các TCTD nói chung bởi họ sẽ không phải tăng ngay từ bây giờ các lãi suất tiết kiệm trung và dài hạn để huy động cho đủ lượng vốn trung và dài hạn cần thiết nhằm đưa tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của mình xuống còn 40% vào đầu năm sau như quy định trong Thông tư 06. Nói cách khác, tính từ thời điểm này trở đi TCTD sẽ có đến 2 năm 4 tháng để đạt được tỷ lệ 40% này thay vì chỉ còn 4 tháng nếu không sửa đổi Thông tư 06.


Do cơ cấu nguồn vốn không bị thay đổi một cách khá gấp gáp, đột ngột theo hướng tăng tỷ trọng vốn trung và dài hạn với lãi suất huy động cao hơn so với vốn ngắn hạn thì chi phí vốn của các TCTD nhìn chung sẽ không có biến động nhiều so với hiện tại. Đây là một tiền đề để mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục được duy trì ổn định hoặc giảm đi nếu các nguồn vốn cho vay ngắn hạn lãi suất thấp (vay liên ngân hàng, hoạt động bơm tiền của NHNN qua thị trường mở và tái chiết khấu) tiếp tục tăng lên theo hướng mở rộng cung tiền của NHNN.
Như vậy, đối tượng hưởng lợi tiếp theo là các cá nhân và doanh nghiệp vay vốn khi mặt bằng lãi suất cho vay ổn định hoặc có xu hướng giảm đi. Suy rộng ra, nền kinh tế sẽ có thêm kích thích để tăng trưởng nhanh hơn trong những quý sau (nếu NHNN tiếp tục đẩy mạnh cung tiền).


Việc giảm lộ trình giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cũng có thêm một cái lợi khác là NHNN sẽ không phải tăng cung tiền quá mạnh để đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng như yêu cầu của Chính phủ. Nếu thực hiện đúng lộ trình giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn trong khi phải cấp tập bơm tiền thì điều này không khác gì khi việc vừa tăng ga, vừa đạp phanh khi lái xe. Hậu quả của việc này sẽ làm nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng thấp so với yêu cầu trong khi lạm phát có nguy cơ bùng phát mạnh.
Bên cạnh đó, việc nâng tỷ lệ tối đa mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ so với nguồn gốc vốn ngắn hạn của các TCTD như trong Dự thảo sẽ giúp Chính phủ bán được nhiều trái phiếu hơn và dễ dàng hơn, có thể với lợi suất thấp hơn so với trường hợp không được nới lỏng. Như vậy, chính sách tài khóa sẽ nhận được thêm hậu thuẫn (một cách gián tiếp) bởi chính sách tiền tệ nới lỏng.


Không chính sách nào không mang tính hai mặt, vậy “mặt bên kia” của việc sửa đổi Thông tư 36 là gì thưa ông?
Đúng vậy, không có chính sách nào là không có tính 2 mặt. Điều này cũng đúng với chính sách giãn lộ trình như trong Dự thảo. Như tôi đã chỉ ra trước đây về khả năng Thông tư 36 và 06 sẽ tiếp tục bị sửa đổi, việc đặt ra những con số mục tiêu và lộ trình trong Thông tư 36, rồi Thông tư 06 và kể cả Dự thảo phần nhiều mang tính "đối phó", dễ bị “lung lạc” bởi, hoặc chạy theo thị trường. Với tính chất như vậy, thị trường sẽ rất dễ “nhờn” với các biện pháp chính sách can thiệp khác và sau này của NHNN.


Điều này được thể hiện rõ ở chỗ là dù chỉ còn 4 tháng nữa là sẽ đến thời điểm phải thực hiện giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn nhưng tỷ lệ này hiện vẫn còn quá cao (45%), khó có khả năng hiện thực hóa mục tiêu 40% nếu Thông tư 06 vẫn tiếp tục còn hiệu lực, không bị sửa đổi bởi Dự thảo. Nói cách khác, dường như các TCTD cũng đã đoán nhận được tình hình, và thấy được tính không nhất quán trong chính sách kèm với khả năng cao là NHNN sẽ phải sửa đổi Thông tư 36 thêm một lần nữa (bằng việc sửa đổi Thông tư 06) nên họ đã không tích cực, nỗ lực giảm tỷ lệ này theo đúng lộ trình.
Ngoài ra, việc tăng cường bơm tiền cho ngân sách gián tiếp thông qua nới lỏng tỷ lệ đầu tư trái phiếu Chính phủ so với nguồn vốn ngắn hạn của các TCTD vừa làm tăng áp lực lên lạm phát (vì chính sách tiền tệ lúc này còn phải cáng đáng thêm cả nhu cầu vay mượn tăng lên, với lợi suất thấp hơn, của ngân sách), đồng thời dễ làm tăng sự thụ động, ỷ lại của các TCTD vào việc mua trái phiếu Chính phủ thay cho việc tích cực và nỗ lực cho vay ra nền kinh tế thực để thúc đẩy tăng trưởng.


Vậy theo ông NHNN cần làm gì tiếp theo để giảm thiểu những tác động không mong muốn đó?
Cũng có thể NHNN sẽ biện minh cho sự thay đổi này với lý do phải thực hiện theo yêu cầu của Chính phủ. Như vậy, một mặt, Chính phủ cũng nên cân nhắc thế khó của NHNN để có những yêu cầu phù hợp hơn. Mặt khác, NHNN cần tiến hành những bước đi chính sách mang tính thận trọng, khả thi và thực tế hơn để giảm thiểu tính không nhất quán và chế tài yếu, thiếu tính dẫn dắt thị trường trong các chính sách của mình.


Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!

Quản lý nợ công: Đầu mối không quan trọng bằng minh bạch (Bài đăng trên TBKTSG, 29/8/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/163909/Quan-ly-no-cong-Dau-moi-khong-quan-trong-bang-minh-bach.html


Theo dự luật Quản lý nợ công hiện tại thì sẽ có đến 3 cơ quan cùng tham gia quản lý nợ công là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Đây là điều mà nhiều người không đồng tình, vì cho rằng khi quản lý phân tán giữa nhiều đầu mối thì sẽ khó xác định được con số thực của nợ công. Việc có đến 3 đầu mối cùng quản lý nợ công như thế này cũng không phù hợp với yêu cầu của Bộ Chính trị là phải bảo đảm tập trung thống nhất trong quản lý nợ công nhằm sớm khắc phục tình trạng quản lý nợ công còn chồng chéo, chưa gắn trách nhiệm cân đối ngân sách, vay và trả nợ với phân bổ, sử dụng vốn. Việc quy về một đầu mối còn không những giảm được biên chế, thủ tục hành chính, phiền hà mà còn giúp cho đàm phán nợ công thuận lợi hơn.
Một số ý kiến còn cho rằng thông lệ trên thế giới là quy định rõ một đầu mối quản lý tập trung, thống nhất nguồn lực nợ công. Thậm chí, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân còn cho rằng việc một người đi đàm phán, một người phân bổ số nợ vay, một người đi trả nợ là bất hợp lý, và khẳng định: “chẳng quốc gia nào giống như chúng ta”.

Ngược lại, cũng có không ít ý kiến ủng hộ dự luật, và cho rằng quy định như dự luật sẽ không làm xáo trộn chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành. Ví dụ, NHNN đã và đang làm tốt vai trò chủ trì đàm phán với Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á nên sẽ là thuận lợi hơn nếu để NHNN tiếp tục chủ trì đàm phán, ký kết vay với các tổ chức này. Đồng thời, việc có 3 cơ quan cùng quản lý sẽ tạo ra cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực lẫn nhau, hạn chế độc quyền.
Bên cạnh đó, có ý kiến cho biết: “Nếu soi chiếu kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là các quy định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hay WB thì cũng không có một mô hình mẫu nào về quản lý nợ công. Tùy theo thể chế, các quốc gia có thể giao một hoặc nhiều bộ, ngành khác nhau quản lý nợ công. Do đó việc tham khảo quốc tế là cần thiết nhưng cần có sự linh hoạt, không cứng nhắc”.

Không có mô hình mẫu trên thế giới
Trước tiên, cần tán đồng với ý kiến rằng không có một mô hình mẫu nào về quản lý nợ công trên thế giới, kể cả khi soi chiếu các quy định của IMF hay WB. Điều này có nghĩa là vẫn có nhiều nước đang có một cơ chế quản lý nợ công phân tán giống như Việt Nam.

Trong bản chỉ dẫn về quản lý nợ công (sau đây gọi là Bản chỉ dẫn), phiên bản sửa đổi năm 2014 được soạn thảo bởi IMF và WB (1) có nêu rõ rằng thực tế cho thấy có nhiều lựa chọn về đầu mối (cơ quan quản lý chức năng) trong việc phân bổ chức năng quản lý nợ công, gồm một hoặc nhiều hơn trong số những đầu mối sau: Bộ Tài chính, Ngân hàng Trung ương (NHTW), hay một cơ quan quản lý nợ công (DMO) độc lập.
Một nghiên cứu của IMF về quản lý nợ công ở các nước thuộc nhóm OECD trong cuối thập kỷ 80 đến thập kỷ 90 cũng cho thấy các nước này mô hình thể chế về quản lý nợ công rất khác nhau. Trong khi một số nước thành lập cơ quan quản lý nợ công độc lập (SDMO) thì một số nước khác lại không thấy có nhu cầu tại sao phải tách rời các SDMO này với Bộ Tài chính. (2) 

Quan trọng là minh bạch, phối hợp và chịu trách nhiệm
Trở lại với hai luồng ý kiến ủng hộ và phản đối dự luật nêu trên, có thể thấy luồng ý kiến phản đối việc để cả 3 đầu mối cùng quản lý nợ công là chưa có cơ sở chắc chắn, ngoài chuyện nêu không chính xác về kinh nghiệm của thế giới. Sẽ là không có gì đảm bảo rằng việc tập trung về một mối sẽ tự khắc dẫn đến giảm biên chế, tăng hiệu quả. Bởi cũng từ kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam cho thấy việc sáp nhập, hợp nhất các cơ quan quản lý chỉ làm giảm số lượng đầu mối chứ thực ra không làm giảm được mấy nhân sự và vị trí (quản lý).

Việc cho rằng quy về một đầu mối sẽ tránh được tình trạng chồng chéo, chưa gắn trách nhiệm cân đối ngân sách, vay và trả nợ với phân bổ, sử dụng vốn… cũng không nhất thiết là đúng, vì ngay đến chính sách “một cửa” cũng còn lắm vấn đề để nói. Nếu trong bản thân đầu mối thống nhất này có một bộ máy phức tạp, nhập nhằng chức năng, nhiệm vụ thì rốt cuộc mọi thứ vẫn cứ rối tinh lên, vẫn kém hiệu quả, dễ lạm quyền.
Ngay cả về lợi ích đàm phán nợ công thuận lợi hơn khi tập trung về một đầu mối cũng không nhất thiết sẽ xảy ra nếu người đàm phán không phối hợp hữu hiệu với các cơ quan chức năng khác như NHNN và Bộ Tài chính để căn cứ vào tình hình và bối cảnh vĩ mô, chính sách tiền tệ, hối đoái… mà có chiến lược đàm phán phù hợp.

Cũng chính từ những cơ sở không chắc chắn nói trên, điều quan trọng rút ra được cho mô hình quản lý nợ công ở Việt Nam là các “từ khóa” sau: Phối hợp, minh bạch, và chịu trách nhiệm. Nói cách khác, phân tách thành 3 đầu mối hay hợp nhất thành một đầu mối duy nhất không quan trọng bằng việc cần thiết phải đảm bảo thực hiện tốt những yêu cầu này.
Về yêu cầu phối hợp tốt, Bản chỉ dẫn nêu rõ các cơ quan liên đới như DMO (cơ quan quản lý nợ công), Bộ Tài chính và NHTW phải cùng hiểu biết chung và chia sẻ về mục tiêu quản lý nợ công và các chính sách tài khóa, tiền tệ, do có sự liên kết chéo và phụ thuộc lẫn nhau trong các công cụ chính sách của các cơ quan này. Chẳng hạn, DMO và Bộ Tài chính cần phải chia sẻ thông tin về nhu cầu luồng tiền cho ngân sách hiện tại và tương lai; NHTW cần phải thông báo cho Bộ Tài chính về các tác động có thể có của mức nợ công lên việc đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Việc phối hợp này phải được đặt trong bối cảnh đảm bảo môi trường vĩ mô lành mạnh.

Cũng cần lưu ý rằng việc phối hợp này không có nghĩa là NHTW tạo điều kiện cung cấp tín dụng lãi suất thấp cho Chính phủ bằng cách thi hành chính sách tiền tệ nới lỏng bất cẩn với lý do là hỗ trợ ngân sách, vì đây không phải là sứ mệnh của NHTW. Bởi vậy, chức năng và mục tiêu quản lý nợ công cần được tách bạch khỏi chức năng và mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Về yêu cầu minh bạch và gắn trách nhiệm, Bản chỉ dẫn nêu rằng cần phân bổ trách nhiệm một cách rõ ràng giữa Bộ Tài chính, NHTW, hay SDMO (cơ quan quản lý nợ công độc lập) trong công tác quản lý nợ công. Bên cạnh đó, các mục tiêu của quản lý nợ công cũng cần được quy định rõ ràng và được công bố minh bạch. Tương tự như vậy là các hoạt động quản lý nợ công, thông qua báo cáo thường niên và báo cáo định kỳ ra công chúng… Quan trọng không kém, các hoạt động quản lý nợ công, gồm cả quy trình quản lý rủi ro và hệ thống thông tin cần được kiểm toán hàng năm bởi tổ chức kiểm toán độc lập để đảm bảo trách nhiệm giải trình trong các hoạt động của này của cơ quan liên đới.

Tóm lại, Việt Nam vẫn có thể duy trì cơ chế 3 bên cùng quản lý nợ công như hiện tại, nhưng phải đảm bảo rằng không có sự thỏa hiệp hay xung đột về lợi ích và sứ mệnh, có sự gắn và giải trình trách nhiệm rõ ràng, minh bạch, và cùng phải hướng đến mục tiêu chung là duy trì môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh.
-----------
(1)   https://www.imf.org/en/Publications/Policy-Papers/Issues/2016/12/31/Revised-Guidelines-for-Public-Debt-Management-PP4855
(2)http://treasury.worldbank.org/bdm/pdf/6_Institutional_Arrangements_PDM_CurrieDethierTogo.pdf

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).