Sunday, 1 January 2017

Dự cảm kinh tế Việt Nam 2017 (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 1/1/2017, bản gốc)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=384008

Cứ đến thời điểm cuối mỗi năm, như thường lệ, một câu hỏi thu hút sự quan tâm của nhiều người là tương lai nền kinh tế năm mới sẽ như thế nào. Tuy không thể “nhìn” được tương lai của nền kinh tế nhưng người ta có thể dựa trên tình hình của năm cũ để dự cảm diễn biến của năm kế tiếp.
Trong năm 2016, kinh tế vĩ mô đã có một số điểm tích cực. Lạm phát năm 2016 có khả năng nằm trong giới hạn 5% mà Quốc hội đề ra. Tỉ giá cũng đã có gần cả một năm 2016 biến động rất nhỏ, hầu như đứng yên, không còn gây sóng gió như những năm trước cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nói riêng. Ngoài nguồn cung ngoại tệ dồi dào đến từ luồng vốn FDI tiếp tục tăng trưởng khả quan, nguồn kiều hối  Việt Nam cũng là một nguồn ngoại tệ lớn với nền kinh tế Việt Nam.
Chưa cần nói đến những số liệu thống kê chính thức, tiếp xúc của người viết với cộng đồng người Việt tại Đức và Séc trong chuyến đi hồi tháng 12 cho thấy người Việt kiếm được đồng nào thì việc đầu tiên họ nghĩ đến là tìm cách chuyển tiền về Việt Nam cho họ hàng hoặc để đầu tư, chủ yếu là bất động sản. Có những người làm chủ một vài quán ăn châu Á thành công đến nỗi cứ một vài tháng họ lại mua thêm một căn hộ hoặc thỉnh thoảng lại dồn tiền mua cả một mảnh đất trị giá hàng chục tỉ đồng tại Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh. Chuyện một gia đình người Việt ở châu Âu sở hữu vài mảnh đất ở Việt Nam đã trở thành chuyện bình thường.
Ngoài ra, Việt Nam cũng đã xuất siêu 2,5 tỉ USD năm 2016, thay vì nhập siêu như một vài năm về trước. Tất cả những yếu tố này đã tác động tích cực đến sự ổn định của tỉ giá và giúp cho NHNN tăng cường quy mô dự trữ ngoại hối lên 40 tỉ USD, cao nhất về mặt tuyệt đối từ trước đến nay.
Ổn định kinh tế vĩ mô đã phần nào tạo dựng niềm tin vào đầu tư và tiêu dùng, với chỉ số bán lẻ luôn tăng ròng cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ đô la hóa đã giảm đáng kể vì người dân đã tích cực đầu tư vào các tài sản tiền đồng nhiều hơn.
Tuy vậy, nền kinh tế trong năm 2016 cũng đã bộc lộ một số khiếm khuyết và yếu kém. Chỉ không lâu sau khi Quốc hội chất vấn Chính phủ về  5 nhà máy, dự án nghìn tỷ thua lỗ, hoạt động kém hiệu quả, mới đây lại có thêm 7 dự án lớn ngành công thương thua lỗ nặng phải xử lý, có khả năng làm tan thành mây khói nhiều chục nghìn tỷ đồng tiền thuế của dân.
Rồi nữa, bên ngoài thì có những tin tức không mấy tốt lành khác với Việt Nam như ông Trump trúng cử Tổng thống Mỹ. Vì ông Trump là người kịch liệt chống lại Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, TPP, nên hầu như chắc chắn rằng TPP sẽ không được Mỹ thông qua, đồng nghĩa nó sẽ bị chết yểu bởi sự vắng mặt của Mỹ. Nếu không có TPP thì tương lai của nhiều ngành xuất khẩu của Việt Nam sang 11 nước thành viên TPP, một thị trường khổng lồ chiếm đến hơn 40% GDP của thế giới, sẽ chững lại mà không thể có bước đột phá, điển hình là ngành dệt may. Ngành này hiện đang chật vật tăng trưởng, với dự báo chỉ tăng 5% trong năm 2016 so với năm 2015 bởi thiếu đơn hàng và giảm giá xuất khẩu. Quan trọng không kém, sự thất bại của TPP cũng có khả năng làm chững lại những nỗ lực cải cách và mở cửa nền kinh tế Việt Nam tuân thủ những cam kết của Việt Nam với các nước thành viên khác trong khuôn khổ TPP.
Cũng đáng lo ngại là những điểm tích cực nêu trên cũng đang có những chuyển biến không thuận. Lạm phát tương đối thấp, trong hạn mức cho phép 5% trong năm 2016 là kết quả một số yếu tố phối hợp mà chủ yếu là tỉ giá ổn định, giá xăng dầu và hàng hóa thấp do nhiều nước trên thế giới đang phải đối mặt với thiểu phát hoặc tăng trưởng trì trệ nên cầu thấp. Nhưng giá nguyên liệu, hàng hóa thế giới hiện đã tăng mạnh so với hồi đầu năm 2016 do cầu từ Trung Quốc đột ngột tăng mạnh trong nửa sau của năm 2016.
Tỉ giá kể từ tháng 12 đã không còn ổn định nữa mà liên tục chịu sức ép do Mỹ đã tăng lãi suất mới đây, dẫn đến sự mất giá của nhiều đồng tiền lớn trên thế giới. VND suy yếu sẽ làm tăng áp lực lạm phát, buộc NHNN phải thắt chặt cung tiền VND để giữ ổn định tỉ giá. Kết cục là lãi suất đã tăng mạnh trong thời gian gần đây, làm vô hiệu hóa nỗ lực hạ lãi suất cho vay của NHNN để thúc đẩy tăng trưởng GDP như yêu cầu của Chính phủ.
Về xuất siêu, đúng là tính từ đầu năm 2016 đến nay, cán cân thương mại đạt mức thặng dư. Nhưng nhìn vào tình hình từng tháng thì nhập siêu đã xuất hiện trở lại trong mấy tháng gần đây hơn. Tình hình nhập siêu có thể sẽ kéo dài sang năm 2017, một phần do nỗ lực ổn định tỉ giá của NHNN sẽ làm tiền đồng lên giá thực, ảnh hưởng bất lợi đến sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Điểm qua những vấn đề chính về vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam như trên để thấy rằng kinh tế Việt Nam sẽ vẫn phải đối mặt với một số rủi ro đáng kể trong năm 2017. Do đó, để đạt được mục tiêu tham vọng tăng trưởng năm 2017 cao hơn đáng kể so với năm 2016, việc hết sức cần thiết mà Chính phủ phải đảm bảo được thực thi thành công các yếu tố “mềm” như cải cách thể chế và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Về cải cách thể chế, chuyện nay đã được nhắc đến nhiều và quán triệt như một nhiệm vụ cấp thiết của Chính phủ. Tuy vậy, hiện Chính phủ vẫn đang phải đối mặt với nhiều rào cản đến từ sự trì trệ, yếu kém, tư duy cục bộ, vụ lợi… có hệ thống từ trung ương, các bộ, ngành xuống đến các doanh nghiệp và địa phương. Những vấn đề này không dễ khắc phục một sớm một chiều, bất chấp việc Chính phủ nhiều lần bầy tỏ rõ quyết tâm thực hiện.
Về nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, điều này cũng đã được đưa vào trong nhiều văn kiện và nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế cũng chưa có những chuyển biến đáng kể. Một minh họa cho vấn đề này là người viết khi đến uống cà phê trong một quán cà phê cổ của thành phố Hamburg, Đức, vốn là một đầu mối buôn bán, rang xay, chế biến cà phê để phân phối đi khắp châu Âu trước đây, đã nhìn thấy vài chục loại cà phê đến từ khắp nơi trên thế giới như Đông Nam Á, gồm Papua New Guinea và Indonesia, châu Phi gồm Ethiopia, châu Mỹ gồm Colombia, Costa Rica, Guatemala và Brazil v.v… nhưng tuyệt nhiên không có một loại cà phê nào của Việt Nam hay mang tên Việt Nam được bày bán ở đó, dù Việt Nam cũng thuộc trong số những nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới.
Tương tự, vào siêu thị ở châu Âu, tuyệt nhiên không thấy có nhãn hiệu gạo Việt Nam nào được bày bán, bất chấp Việt Nam là nước xuất khẩu thuộc hàng nhất nhì thế giới, mà thường chỉ có gạo Ấn Độ, Thái Lan được bày bán ở đó. Về rau quả, có lẽ chỉ có những chợ của người Việt như Sapa ở Séc và Đồng Xuân ở Đức là có bán một số thứ rau quả của Việt Nam, chủ yếu là rau thơm hoặc do tiếp viên Vietnam Airlines xách tay từ Việt Nam mang sang hay trồng từ bên Nga mang đến.   

Một người bạn của người viết hiện đã định cư và là chủ một vài tiệm ăn ở Đức đã phải thốt lên rằng không thể hiểu được tại sao Việt Nam cứ mải chạy theo tăng trưởng về lượng mà không phải chất; tại sao cứ phấn đấu xuất khẩu 7 triệu tấn với giá 10.000 đồng/kg mà không phấn đấu xuất khẩu 3 triệu tấn với giá 25.000 đồng/kg.

Tóm lại, trong bối cảnh có những rào cản và sự cứng nhắc về tư duy phát triển kèm thêm những yếu tố không thuận lợi về vĩ mô diễn ra gần đây, chúng ta cần phải chuẩn bị sẵn sàng cho một kịch bản theo đó tăng trưởng kinh tế năm 2017 sẽ thấp hơn năm 2016. Theo kịch bản này, các chỉ tiêu như thâm hụt ngân sách tính theo tỷ trọng GDP và nợ Chính phủ hay nợ công cần phải điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn để chúng không tiếp tục tăng lên, vượt ngưỡng an toàn đặt ra bởi Quốc hội.  

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).