Thursday, 16 February 2017

Bàn thêm về Thông tư 39 (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, 16/2/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/ban-them-ve-thong-tu-39/1102753/

Ngày 30/12/2016, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư 39 Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, có hiệu lực thi hành từ 15/3/2017. Thông tư 39 có một số điều khoản bất hợp lý như dưới đây mà NHNN có thể cần thiết phải xem xét, sửa đổi cho phù hợp trước ngày Thông tư này có hiệu lực.

Điều 6, về sử dụng ngôn ngữ, Thông tư 39 quy định thỏa thuận cho vay được lập bằng tiếng Việt hoặc đồng thời bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Tuy nhiên, điều khoản này là bất hợp lý nếu cả khách hàng và ngân hàng cho vay đều là nước ngoài. Trong trường hợp này, quy định thỏa thuận cho vay phải bằng tiếng Việt không những là thừa mà còn là một trở ngại không đáng có cho việc vay vốn tương ứng.

Điều 7 quy định khách hàng phải có phương án sử dụng vốn khả thi. Quy định này có thể là hợp lý nếu khách hàng là, ví dụ, doanh nghiệp vay vốn để sản xuất kinh doanh. Nhưng sẽ là bất hợp lý, hoặc trở nên thừa, nếu khoản vay chỉ là để cho những mục đích như tiêu dùng, là cái mà không thể nói/yêu cầu phải có phương án sử dụng vốn “khả thi”.  
Điều 8 quy định về những nhu cầu vốn không được cho vay, trong đó có nhu cầu để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay. Có một nghiệp vụ cho vay thông dụng trên thực tế là vay để đảo nợ. Chẳng hạn, khi khách hàng mở một tài khoản thẻ tín dụng với ngân hàng và được ngân hàng cấp cho một hạn mức tín dụng cụ thể nào đó. Khách hàng có thể vay nhiều lần trong hạn mức này dưới một số hình thức, ví dụ như chuyển số dư (balance transfer), trong thời hạn 6 tháng. Giả sử hạn mức này là 100 triệu đồng, khách hàng trong lần vay thứ nhất chỉ vay 50 triệu đồng trong 6 tháng, thì người này vẫn có thể được ngân hàng cho vay thêm 50 triệu đồng trong lần vay thứ hai (với mục đích tùy ý, mà có thể là để trả nợ lần vay đầu tiên). Nay, nếu Thông tư 39 quy định không được cho vay để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay thì điều khoản này hoặc là thừa hoặc là không thực tế. Dù có hay không điều 9 này thì cả ngân hàng và khách hàng đều không thể hiện trên giấy tờ mục đích của lần vay thứ hai là đảo nợ, dù thực tế là vậy, và việc cho vay kiểu này không thể bị “xử lý” bằng pháp luật được, trừ khi cấm mọi hình thức cho vay nhiều lần cho cùng một khách hàng.
Cũng tại điều 8, nhu cầu vay để trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác và trả nợ khoản vay nước ngoài cũng bị cấm. Điều này cũng là bất hợp lý với những khoản vay để, ví dụ, tất toán một hợp đồng vay vốn mua bất động sản với một ngân hàng bằng khoản vay mới cho cùng mục đích tại một ngân hàng khác, khi người vay thấy ngân hàng khác cho vay với các điều khoản và điều kiện dễ chịu hơn. Đây là một giao dịch vay vốn rất phổ thông ở nước ngoài nên nếu bị cấm thì có nghĩa là cả người vay và ngân hàng đã bị tước đi những lợi ích tiềm năng, trong khi sự cạnh tranh trên thị trường lại bị hạn chế. Trên hết, dù có bị cấm thì mục đích cho vay này vẫn có thể thực hiện được mà không thể bị phát hiện hay “xử lý” được khi mà việc vay vốn trên giấy tờ là để cho mục đích tiêu dùng, trong khi mục đích thực tế là để trả khoản vay tại một ngân hàng khác.

Khoản 2, điều 13 quy định về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn cho nông nghiệp, nông thôn; sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu; kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; công nghiệp hỗ trợ; và kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Điều khoản trên liệu có là cần thiết khi chỉ quy định khống chế mức trần lãi suất ngắn hạn cho những khoản cho vay mà thường là trung và dài hạn như trên? Quan trọng hơn, điều khoản trên (và những điều khoản khác trong Thông tư 39) không đề cập thêm về quyền lợi của tổ chức tín dụng sẽ được hưởng khi phải cho vay trong giới hạn trần lãi suất thường là thấp hơn thị trường, gây thiệt hại cho tổ chức tín dụng. Nếu không cho tổ chức tín dụng được hưởng những quyền lợi nào đó, ví dụ, được vay NHNN với lãi suất ưu đãi, thì hoặc là điều khoản này là duy ý chí, đi ngược nguyên tắc thị trường (và vì thế không thể có hiệu lực được), hoặc là các tổ chức tín dụng sẽ chủ động giảm thiểu cho vay trong những lĩnh vực này (vì không có lợi bằng cho vay trong những lĩnh vực khác), tức là cũng đi ngược với chủ trương và mong muốn của NHNN.

Khoản 4, điều 13 quy định trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả. Thực tế với nhiều khoản vay thì lãi chậm trả không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả là quá thấp, thấp hơn cả lãi suất cho vay thông thường trong một số khoản vay, và điều này sẽ khuyến khích người vay trì hoãn trả nợ và lãi đúng hạn. Bởi vậy, điều khoản này cần thiết phải sửa đổi cho phù hợp hơn.
Cũng khoản 4, điều 13 quy định, trong trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Có thể nó luôn rằng mức lãi suất phạt bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn này là quá “mềm” so với lãi suất áp dụng cho các khoản vay chi tiêu qua thẻ tín dụng lên đến trên 20%/năm, gây thiệt hại một cách bất công cho các tổ chức tín dụng, khi lãi suất vay trong hạn chỉ là, ví dụ, 10%/năm.

Điều 14 quy định về các loại phí liên quan đến các hoạt động cho vay, nhưng không thấy đề cập đến những loại phí khác, ví dụ phí thay cho lãi suất. Chẳng hạn, có một số khoản vay ngắn hạn, thay vì đưa ra một lãi suất nào đó, ngân hàng lại chào một khoản phí một lần, gọi là phí xử lý khoản vay, theo một tỷ lệ nào đó tính trên số dư cho vay. Không rõ những loại phí tương tự kiểu này có được đề cập ở một văn bản quy phạm pháp luật liên quan nào đó như nêu trong điều 14 này hay không.
Điều 16 về cung cấp thông tin, có quy định khách vay phải báo cáo việc sử dụng vốn vay và chứng minh vốn vay được sử dụng đúng mục đích ghi trong thỏa thuận cho vay. Tuy nhiên, điều này là không cần thiết hoặc quá trói buộc với những khoản vay, ví dụ, tiêu dùng.

Điều 23 quy định thỏa thuận cho vay phải được lập thành văn bản. Quy định này là lỗi thời và/hoặc quá trói buộc với một số loại hình cho vay mà hoàn toàn có thể thực hiện thông qua điện thoại có ghi âm sau khi ngân hàng đã tiến hành các bước cần thiết để xác định/nhận danh tính người vay, và giải thích đầy đủ cho người vay các điều kiện và điều khoản cho vay, cũng trên điện thoại, có xác nhận (là đã hiểu) bằng lời của người vay. Ở nước ngoài, những khoản vay cá nhân lên tới hàng trăm nghìn đô la vẫn được thực hiện qua hình thức gọi điện này mà không cần phải có bất cứ một văn bản nào. Nói cách khác, quy định này cần phải để mở hơn.
Điều 24 quy định khách hàng phải báo cáo và cung cấp tài liệu chứng minh việc sử dụng vốn vay theo yêu cầu của tổ chức tín dụng. Điều này không phải là luôn cần thiết với những khoản vay tiêu dùng như đã lấy ví dụ ở trên. Với những khoản vay này nếu bắt buộc ngân hàng phải yêu cầu và khách hàng phải chứng minh việc sử dụng vốn thì đây là một điều trói buộc không cần thiết. 
 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).