Saturday, 15 April 2017

Hiểu thế nào về thông điệp “Sẽ không đặt ra vấn đề NHNN mua lại các ngân hàng với giá 0 đồng”?

Khi thảo luận về dự thảo Luật Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật vừa qua đã đi đến thống nhất từ nay sẽ không đặt ra vấn đề Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua lại các ngân hàng với giá 0 đồng.
Về thông điệp này, đã có một số ý kiế diễn giải khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng thông điệp về chấm dứt việc mua ngân hàng 0 đồng chỉ là vấn đề câu chữ. Vì những ngân hàng có giá trị thực của vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 0 đồng bị mua bắt buộc thì không thể mua với giá nào khác ngoài 0 đồng (hay điều chỉnh một chút thành 1 đồng).
Ý kiến thứ hai thì phản bác quan điểm trên, rằng việc dừng mua ngân hàng 0 đồng không phải là chuyện thay đổi câu chữ, hiểu như vậy là sai với chủ trương và lộ trình phát triển mà NHNN đang theo đuổi. Dự thảo được xem là “phát pháo” đánh dấu cho tính nhất quán từ khâu thanh tra giám sát, xử lý ngân hàng yếu kém, thực hiện chuẩn Basel 2 và phát triển thị trường tài chính. NHNN đang hướng tới việc cho ngân hàng được sẽ hoạt động theo cơ chế thị trường và khách hàng gửi tiền cần “chọn mặt gửi tiền”. Bởi khách hàng ham ngân hàng có lãi suất cao thì đồng nghĩa họ sẽ phải tự gánh chịu rủi ro.

Cũng có ý kiến thứ ba không bàn trực tiếp vào phải hiểu thông điệp này thế nào cho đúng mà lại bàn rộng ra về tính hai mặt của việc mua ngân hàng 0 đồng, nhấn mạnh vào mặt trái của nó là không đúng với xu hướng kinh tế thị trường, không đúng với xu hướng thế giới và đặc biệt gây tăng mất cân đối ngân sách cũng như là nợ công. Hơn nữa việc mua ngân hàng 0 đồng khiến cho tình trạng đầu cơ, làm ăn phi pháp, chộp giật theo kiểu biến lợi ích của Nhà nước thành con tin có nguy cơ gia tăng. Bởi vậy, ý kiến này cho rằng việc NHNN dừng mua ngân hàng 0 đồng là chủ trương đúng và kịp thời. Song đồng thời cũng cần cảnh báo sớm và nhận diện những ngân hàng có vấn đề sớm để không xảy ra tình trạng buộc phải chuyển giao hoặc kiểm soát đặc biệt… Do đó, vấn đề ở đây không chỉ là dừng mua ngân hàng 0 đồng mà cần phải ngăn chặn để phát sinh những ngân hàng 0 đồng như vậy. 

Các ý kiến trên phần nào mới chỉ hiểu/diễn giải thông điệp của Chính phủ từ một khía cạnh, hoặc đơn giản là… lạc đề, nhất là các ý kiến thứ hai và thứ ba!
Với ý kiến thứ nhất, đúng là các ngân hàng yếu kém đã thuộc diện mua lại bắt buộc thì thường có vốn chủ sở hữu âm. Nhưng điều này không có nghĩa là NHNN chỉ được mua lại các ngân hàng yếu kém này với giá 0 đồng, 1 đồng, hoặc một cái giá tượng trưng nào đó mà không phải là âm đồng (tức là giá mua nhỏ hơn những thứ có giá trị được tặng/đưa/kèm thêm). Vì vốn chủ sở hữu của ngân hàng yếu kém lúc này đã âm nên nếu được NHNN mua với cái giá 0 đồng thì cái giá này thậm chí vẫn còn là quá hời cho các ngân hàng yếu kém khi xét đến nghĩa vụ chi trả mà nó và cổ đông của nó phải thực hiện nếu không được NHNN mua lại (và chịu trách nhiệm thay).

Do đó, thông điệp trên cũng có thể hiểu rằng NHNN vẫn có thể mua lại bắt buộc các ngân hàng yếu kém với một cái giá (tượng trưng) nào đó, chắc chắn không phải là 0 đồng, nhưng đồng thời các ngân hàng này và cổ đông của chúng vẫn phải có trách nhiệm tiếp tục khắc phục các hậu quả để lại (ví dụ, nợ xấu, vốn ảo, sở hữu chéo v.v…).
Việc này không phải là khó hiểu, chưa từng có trước đây ở Việt Nam. Thực ra, gần 2 năm trước đây đã có vụ việc sáp nhập một ngân hàng thương mại với một ngân hàng thương mại khác, và một cổ đông lớn của ngân hàng bị sáp nhập đã “tự nguyện” ủy quền cho NHNN thực hiện đầy đủ các quyền cổ đông của mình sau khi sáp nhập. Vị này cũng “tự nguyện” cam kết sẽ bổ sung thêm các tài sản khác thuộc sở hữu của mình nếu giá trị tài sản đảm bảo cho các nghĩa vụ nợ của mình không đủ.

Việc NHNN mua lại với một cái giá không phải là 0 đồng nhưng vẫn bắt buộc các cổ đông hiện tại của ngân hàng yếu kém thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ của mình là một điều khôn ngoan, cần thiết, vừa tránh được dị nghị của dư luận về quyền/ý chí của cổ đông hiện tại, vừa vẫn đảm bảo việc mua lại này của NHNN không làm thiệt hại cho nhà nước (vì tự nhiên phải mang thêm nợ do người khác để lại).
Ngoài khả năng trên, thông điệp trên cũng có thể bao hàm một khả năng khác là việc mua lại bắt buộc ngân hàng yếu kém với cái giá 0 đồng vẫn sẽ được thực hiện, nhưng người mua bắt buộc này sẽ không còn, không phải là NHNN nữa, mà là một tổ chức tín dụng hay một doanh nghiệp khác (tất nhiên là dưới sự chỉ đạo, chỉ định của NHNN). Tất nhiên, trong trường hợp này, nếu cần thiết thì việc mua lại bắt buộc với giá 0 đồng hay một cái giá tượng trưng nào khác vẫn có thể sẽ được đi kèm với điều kiện là các cổ đông hiện tại của ngân hàng yếu kém sẽ vẫn phải tiếp tục thực hiện đầy đủ các trách nhiệm và nghĩa vụ của mình để tránh làm thiệt hại liên đới cho tổ chức đứng ra mua bắt buộc này.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).