Friday, 23 June 2017

Giải ngân vốn đầu tư công chậm là vì không có ai chịu trách nhiệm! (Bài đăng trên TBKTSG, 23/6/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/161640/Cham-do-tri-tre.html

Trong phiên chất vấn sáng 15/6/2017, nhiều Đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) Nguyễn Chí Dũng về tình trạng phân bổ vốn đầu tư công dàn trải, giải ngân vốn chậm và đề nghị ông Dũng làm rõ trách nhiệm. Đáp lại, ông Dũng quy lỗi tại Luật Đầu tư công mới có hiệu lực nên triển khai thực hiện còn lúng túng, chất lượng chuẩn bị dự án chưa tốt. Tuy vậy, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã trả lời thay cho Bộ trưởng Dũng rằng nguyên nhân gốc rễ gây chậm chễ trong phân bổ, giải ngân vốn cho các dự án trọng điểm quốc gia là do Bộ KHĐT, các bộ, các ngành đã làm chậm các hồ sơ giải trình ra Quốc hội để được thông qua chủ trương đầu tư.

Cần nhớ lại là Luật đầu tư công đã có hiệu lực từ 1/1/2015, đến thời điểm này đã là hai năm rưỡi trôi qua nên không thể coi là mới mẻ nên gây ra nhiều bỡ ngỡ, trục trặc. Chưa hết, nếu điểm lại tin tức trên báo chí thì thấy tình hình chậm chễ trong giải ngân vốn đầu tư công đã trở thành vấn đề nổi cộm, đã được nhận diện và “quyết liệt” xử lý từ ở Chính phủ trở xuống, nhất là kể từ năm 2016. 


Chẳng hạn, ngày 8/6/2016, Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập Tổ công tác chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016 (Tổ công tác) do Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ làm Tổ trưởng. Đến ngày ngày 21/6/2016, tổ này đã nhóm họp phiên đầu tiên. Tại đó, ông Huệ nhận định, giải ngân vốn đầu tư công đang thấp và đề nghị các bộ, ngành và địa phương đẩy nhanh tiến độ giao vốn để bảo đảm tạo việc làm và tăng trưởng của nền kinh tế. Ông Huệ cũng đề nghị các bộ rà soát, sửa đổi các văn bản hướng dẫn việc thực hiện đầu tư các dự án, đẩy mạnh việc giao vốn và kiểm soát chất lượng các dự án đầu tư công, bảo đảm phát huy giá trị của dự án đối với phát triển kinh tế-xã hội.


Tiếp đó, Chính phủ có Nghị quyết số 60/2016/NQ-CP ban hành hồi tháng 7/2016 và Công điện số 2144/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công của Thủ tướng hồi tháng 10/2016. Nhờ đó, theo đánh giá của Tổ công tác trên trong phiên họp ngày 23/12/2016, tiến độ giải ngân của 5 tháng cuối năm đã mạnh hơn nhiều so với trước đó. Tuy nhiên, tại phiên họp, Bộ KHĐT cho biết một số bộ, ngành địa phương giải ngân còn chậm, đặc biệt là vốn trái phiếu Chính phủ các dự án đã được giao nhiều năm nhưng chỉ đạt 53,3% kế hoạch, trong đó có một Bộ và 6 địa phương mới giải ngân dưới 30% kế hoạch, 12 địa phương giải ngân 30-50% kế hoạch. Ông Huệ kết luận nguyên nhân của sự chậm trễ trong giải ngân vốn đầu tư công là do vướng mắc trong hệ thống pháp luật, văn bản hướng dẫn, trong áp dụng và thực thi pháp luật, sự trì trệ của bộ máy, sự thiếu chuyên nghiệp, sự phối hợp chưa chặt chẽ của các bộ, ngành với nhau. Kết thúc phiên họp, tất nhiên là lại có một loạt các giải pháp “đồng bộ” quen thuộc được đưa ra như đề nghị, đôn đốc, rà soát, tăng cường, tích cực, kiểm điểm nghiêm khắc (trước Thủ tướng), xử lý trách nhiệm cá nhân các cán bộ làm chậm việc giải ngân…

Nhưng rồi tình hình xem ra vẫn không tiến triển khả quan hơn là mấy sang năm 2017 nên vấn đề giải ngân vốn đầu tư công đã trở thành chủ đề “nóng” tại kỳ họp Quốc hội hiện nay. Nhìn lại những nhận định và kết luận của những cơ quan chức năng như Bộ KHĐT, Bộ Tài chính, và Tổ công tác nêu trên trong suốt thời gian qua, điều có thể thấy rõ là nguyên nhân gây ra chậm chễ không phải là do Luật đầu tư công mà là do nhiều lý do… đồng bộ như đã được chỉ ra, tất cả các bên liên đới, từ trên Chính phủ xuống đến địa phương, đều đóng góp một phần lỗi vào trong đó.


Nhưng nếu phải chỉ là nguyên nhân “gốc rễ” của vấn đề thì không khó khăn gì để chỉ đích danh rằng đó là sự vô trách nhiệm có hệ thống. Điều quan trọng không kém là sự vô trách nhiệm nay đã không hề bị xử lý, dù là bằng hình thức kỷ luật nhẹ nhất, dù là đã được nhận diện và răn đe trước đó, như trong phiên họp của Tổ công tác ngày 23/12/2016 như nói trên, và dù là Chính phủ cũng đã tạo ra đầy đủ công cụ pháp lý cũng như tổ chức và nhân sự để thi hành việc đôn đốc, thúc đẩy tiến độ giải ngân.


Từ đây đặt ra thêm hai vấn đề liên quan đến việc giải ngân vốn đầu tư công. Thứ nhất, Quốc hội từ nay về sau có lẽ không nên chất vấn nguyên nhân gây ra giải ngân vốn đầu tư công chậm nữa. Vì chắc chắn câu trả lời sẽ vẫn như đã được nghe đi nghe lại nhiều năm qua, tại cái A, B, C… mà không truy ra được bất kể một cá nhân hay cơ quan X, Y, Z nào đó phải chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật, thậm chí là truy tố. Thay vào đó, điều có ý nghĩa hơn mà Quốc hội có thể làm là bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ và Thủ tướng về chất lượng điều hành, xử lý các vấn đề lớn trong nền kinh tế.


Thứ hai, Quốc hội cũng cần (tiếp tục) kiên quyết hơn với Chính phủ, không vì áp lực phải giải ngân mà bỏ qua, châm chước, hay dễ dãi với những dự án lớn và những đề xuất liên quan của Chính phủ mà rất có thể đã bị lồng ghép vào đó lợi ích nhóm và những yếu tố gây bất lợi cho ngân sách và hiệu quả kinh tế, xã hội sau này. Một ví dụ loại này là việc chỉ định thầu trong các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng với lý do là thời gian gấp rút, tính chất phức tạp của dự án nên phải chỉ định thầu cho... kịp thời và hiệu quả!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).