Friday, 28 July 2017

Nâng trần lãi suất USD lên bao nhiêu còn phụ thuộc nhiều yếu tố! (Bài đăng trên CafeF, 29/7/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://cafef.vn/nang-tran-lai-suat-usd-len-bao-nhieu-con-phu-thuoc-nhieu-yeu-to-20170729111201022.chn

Thời gian qua Chính phủ đã đôi lần yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nghiên cứu giải pháp phù hợp để huy động nguồn vốn vàng, ngoại tệ nhàn rỗi trong dân, để biến thành vốn đưa vào sản xuất, kinh doanh. Và mới tuần trước đây, trong buổi làm việc với NHNN, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng một lần nữa nhắc lại yêu cầu này.

Không rõ chủ trương hưởng ứng yêu cầu trên của NHNN ra sao, nhưng xem ra nếu hưởng ứng thì NHNN không có mấy lựa chọn, ngoài việc nâng trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ lên trên mức hiện tại là 0%/năm như đề xuất của một số chuyên gia. Nhưng đến đây thì lại có thêm sự chia rẽ trong giới chuyên gia khi người thì cho rằng cần nâng lên 0,5%/năm trong khi người khác thì đề xuất nâng lên tới 2-2,5%/năm.

Vậy đâu là cơ sở để quyết định một mức trần lãi suất tiền gửi USD phù hợp?

Để trả lởi câu hỏi này, điều trước tiên cần nhận thức rõ, khẳng định rõ với nhau rằng không có cái gọi là nguồn vốn vàng và ngoại tệ “nhàn rỗi” trong dân. Vì chủ đề của bài này là về USD nên ở đây chúng ta cũng chỉ nói đến USD và khẳng định lại là không có USD “nhàn rỗi” trong dân.

USD bản thân là tiền, thậm chí còn là đồng tiền có lợi thế hơn nhiều so với VND, vì USD không chỉ “tiêu” được ở Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn thế giới. Nên, theo lý thuyết và cả thực tế, nó sẽ (dễ dàng) “chảy” đến chỗ nào, ở trong hoặc ngoài nước, mang lại lợi nhuận cao nhất cho chủ sở hữu. VND đã không “nhàn rỗi” thì càng không thể kỳ vọng USD sẽ “nhàn rỗi” được. Bởi vậy, dù là ở Việt Nam, bị khống chế bởi trần lãi suất tiền gửi 0%, nhưng chắc chắn không mấy người nắm giữ USD lại cam chịu gửi tiền vào ngân hàng để không được cái gì cả, vì họ dễ dàng và hoàn toàn có khả năng bắt số USD mình nắm giữ sinh lời.

Một trong những ví dụ minh họa cho lợi thế của USD và khả năng sinh lợi ở Việt Nam mà báo chí đã “phanh phui” là chuyện người nắm giữ USD sẽ gửi vào ngân hàng và dùng chứng chỉ tiền gửi này để thế chấp vay VND chính tại ngân hàng đó, với lãi suất ưu đãi, ví dụ là 5%/năm để rồi lại đem gửi chính số VND vào ngân hàng đó để hưởng lãi suất 7%/năm, tức là vẫn thu được lợi nhuận 2%/năm (tính theo lượng VND vay được) từ khoản nắm giữ USD của mình, mặc dù trên danh nghĩa khoản tiền gửi USD vào ngân hàng Việt Nam không hề có lãi.

Như vậy, điều có thể rút ra ở đây là không những USD không nằm “nhàn rỗi” trong dân ở cái nghĩa là không sinh lời, mà thậm chí đang sinh lời ở mức không hề tệ. Bởi là mức không hề tệ nên mới có chuyện ngân hàng Việt Nam hiện vẫn đang tiếp tục huy động được khá nhiều để cho vay bằng USD, dù rằng, xin được nhắc lại, lãi suất tiền gửi USD là 0%/năm, và dù rằng Mỹ đã và đang vẫn tiếp tục “lăm le” nâng lãi suất USD ở bản quốc.

Từ đây, để tiếp tục trả lời câu hỏi Việt Nam cần phải nâng trần lãi suất USD lên bao nhiêu thì phải làm rõ vấn đề khác là nhu cầu vay USD ở Việt Nam nhiều đến mức nào?

Nếu là khối doanh nghiệp thì hiện nay nhu cầu và đối tượng vay USD đang bị khống chế bởi Thông tư 24. Về phía Chính phủ, không rõ họ có hay không kế hoạch phát hành trái phiếu, tín phiếu bằng ngoại tệ trong nước như đã từng làm trước đây. Nếu không có thì có nghĩa là nhu cầu vay/huy động USD ở Việt Nam trong thời gian này sẽ không có biến động gì nhiều, nếu nhìn từ cả góc độ công lẫn tư. Điều này cũng có nghĩa là NHNN không cần phải nâng trần lãi suất USD, vì mọi việc vẫn diễn ra bình thường, như cũ!

Ngược lại, nếu khu vực doanh nghiệp được nới lỏng điều kiện vay vốn bằng USD, còn Chính phủ thì quay trở lại với kế hoạch phát hành trái phiếu ngoại tệ lên đến hàng tỷ USD thì lập tức nhu cầu USD trong nước sẽ tăng vọt. Ở mức trần lãi suất 0% hiện tại (hoặc lãi suất thực tế cao hơn, thu được từ những cách “lách” như trên) số USD huy động được sẽ chỉ là “muối bỏ bể” so với nhu cầu tăng vọt, buộc NHNN phải tính đến việc nâng trần lãi suất.

Trong bối cảnh trên, trần lãi suất không thể chỉ được nâng lên ở mức “gọi là”, kiểu như 0,5% hay 1%/năm được, mà phải ở mức cao hơn nhiều, tỷ lệ thuận với nhu cầu vay vốn USD. Đến một quy mô nào đó, mức lãi suất huy động USD mà ngân hàng thương mại cần chào mời để hấp dẫn tiền gửi USD trong nước thậm chí có thể trở nên còn cao hơn cả nếu họ huy động từ nước ngoài. Tương ứng với đó là trần lãi suất tiền gửi USD mà NHNN áp đặt cũng phải “nới” hết cỡ, và trở nên không còn cần thiết vì đằng nào thì ngân hàng thương mại cũng đi vay từ nước ngoài cho rẻ hơn là huy động trong nước.


Nhưng có lẽ ít có khả năng NHNN mạo hiểm nới lỏng quy chế cho vay bằng ngoại tệ vì quan ngại nó sẽ làm trầm trọng thêm nạn đô la hóa, vốn là một trong những nguyên nhân làm giảm tác dụng của chính sách tiền tệ và gây bất ổn vĩ mô. Vậy câu trả lời chỉ còn nằm ở chủ trương và động thái phát hành trái phiếu, tín phiếu bằng ngoại tệ trong nước của Chính phủ.

Và cũng cần lưu ý thêm rằng mặc dù trên danh nghĩa chi phí huy động USD chỉ là 0%/năm nhưng thực tế ngân hàng phải trả cho người gửi USD một lãi suất cao hơn nhiều (2% như trong ví dụ trên) để rồi lãi suất cho vay USD còn cao hơn thế nữa, có thể là 4% hoặc hơn. Trong bối cảnh này, Chính phủ nếu muốn phát hành trái phiếu, tín phiếu ngoại tệ trực tiếp cho ngân hàng thương mại thì họ cũng phải chào mời một lãi suất cạnh tranh, không thấp hơn quá nhiều so với lãi suất mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp. Bởi vậy, cũng sẽ không có chuyện Chính phủ sẽ huy động được USD với lãi suất không tưởng, ví dụ 1%, 2%/năm, cho dù trần lãi suất tiền gửi 0% vẫn được bảo lưu.

Do đó, nếu cân nhắc kỹ thì có lẽ Chính phủ cũng không nên quá lạc quan với kênh huy động USD trong nước và, do đó, NHNN cũng không bị lâm vào tình thế khó xử với chính sách trần lãi suất hiện nay của chính mình.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).