Saturday, 8 July 2017

Thận trọng với một số đề xuất kích thích tăng trưởng (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 7/7/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/162196/Than-trong-voi-mot-so-de-xuat-kich-thich-tang-truong.html

Nền kinh tế đã đi qua nửa chặng đường của năm nay với tốc độ tăng trưởng khá thấp so với mục tiêu tăng trưởng 6,7% cả năm nay. Như thường lệ, hàng loạt đề xuất và giải pháp được đưa ra để vực tăng trưởng của nửa năm còn lại sao cho bù đắp được sự giảm sút tăng trưởng của nửa năm đầu và đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm.


Giải pháp đầu tiên hay được nhắc đến bởi một số chuyên gia và quan chức là tăng sản lượng khai thác dầu thô. Cần lưu ý là giải pháp này đã được đề cập đến từ nhiều năm qua, mỗi khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng “hụt hơi”. Tuy nhiên, giải pháp này nếu được thực hiện vào những năm trước, khi giá dầu còn ở mức cao, thì còn có thể hiểu được logic của nó. Nhưng hiện tại, giá dầu đang “lình xình” ở vùng thấp, quanh quẩn 50 đôla/thùng so với trên 100 đôla/thùng của vài ba năm trước, và chẳng có dấu hiệu gì sẽ bật tăng mạnh và bền vững trong nửa năm còn lại. Trong bối cảnh giá dầu thấp, thậm chí còn nằm trong vùng giá thành khai thác của Petro Vietnam, việc khai thác thêm hàng triệu tấn dầu có khác gì tự cắt thịt mình nấu cháo?
Tất nhiên, không loại trừ khả năng đề xuất tăng khai thác dầu thô để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là xuất phát từ cách tính (sai, không hợp lý) GDP ở Việt Nam. Có lẽ từ trước đến nay cách tính GDP vẫn dựa vào mức tăng khối lượng, sản lượng của các ngành sản xuất và dịch vụ, tại một mức giá cố định, ví dụ, giá của năm 2010. Theo đó, bất kể giá thực tế của hàng hóa và dịch vụ diễn biến trên thực tế như thế nào thì mức đóng góp của các hàng hóa và dịch vụ vào tốc độ tăng trưởng chung sẽ tương đương với tốc độ tăng trưởng về lượng của các hàng hóa và dịch vụ đó. Biến động giá cả (do lạm phát v.v…) được loại trừ hoàn toàn vì người ta sử dụng giá cố định của năm 2010. Trên cơ sở này, kể cả giá dầu có tụt giảm một nửa so với trước đây nhưng nếu lượng dầu thô khai thác tăng gấp đôi thì vẫn cho ra kết quả tính toán là mức đóng góp của khai thác dầu thô vào GDP đã tăng lên gấp đôi!


Rõ ràng, nếu nhìn nhận bằng con mắt tỉnh táo, hiện thực thì khi tăng gấp đôi sản lượng dầu thô với giá bán giảm một nửa thì tổng giá trị thu được từ khai thác dầu thô sẽ không thay đổi, và sẽ chẳng có thêm chút giá trị gia tăng nào tạo thêm ra để đóng góp vào tăng trưởng GDP hết. Chưa dừng ở đó, vì giá bán cũng bằng hoặc gần bằng giá thành khai thác, nên nếu cộng thêm đủ loại chi phí liên quan đến khai thác như chi phí tài chính, quản lý, khấu hao… thì thậm chí còn bị lỗ, tức là giá trị thặng dư tạo thêm ra là âm, và GDP còn bị “thâm” thêm nữa! Nói cách khác, bên cạnh chuyện bảo vệ trữ lượng dầu thô đang có xu hướng cạn kiệt, tuyệt đối không được tăng khai thác dầu thô để kích thích tăng trưởng GDP khi giá dầu tụt dốc tiệm cận với giá thành khai thác.
Giải pháp thứ hai được một chuyên gia đưa ra gần đây là kích thích tăng tiêu dùng nội địa. Theo tính toán của vị này thì tăng 1% tiêu dùng nội địa tương đương với tăng thêm 380 nghìn tỷ đồng cho nền kinh tế (vì tiêu dùng chiếm 78% GDP, theo vị này cho biết).


Rất tiếc, giải pháp trên được đưa ra dựa trên một sự nhầm lẫn quan trọng. Dù là tiêu dùng chiếm đến 78% GDP nhưng không có nghĩa là cứ tăng tiêu dùng thêm 1% thì GDP sẽ có thêm ngay 380 nghìn tỷ đồng (tức tăng 0,78 điểm phần trăm). Đơn giản vì bên cạnh tiêu dùng (cá nhân) còn có các cấu thành khác tạo nên GDP, là chi tiêu Chính phủ, đầu tư, và xuất khẩu ròng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu). Các cấu thành này có thể bị ảnh hưởng tiêu cực bởi tăng tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình.
Tăng tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình rất có thể sẽ làm giảm chi tiêu Chính phủ. Cụ thể hơn, khi cá nhân và hộ gia đình đổ tiền vào chi tiêu, họ phải cắt giảm tiết kiệm. Hệ thống ngân hàng thương mại sẽ bị ảnh hưởng bởi tiền gửi và tiết kiệm từ dân chúng giảm đi. Vì vậy, các ngân hàng sẽ có thể phải cắt giảm lượng vốn dành cho trái phiếu Chính phủ, hoặc đòi hỏi Chính phủ phải trả lãi cao hơn cho trái phiếu của mình thì họ mới mua. Đến lượt mình, Chính phủ buộc phải cắt giảm chi tiêu vì không huy động được vốn hoặc chi phí huy động trở nên quá cao, ảnh hưởng đến cân đối thu chi ngân sách.


Tăng tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình cũng rất có thể làm giảm đầu tư. Chưa kể đến đầu tư công có thể sẽ bị sụt giảm vì Chính phủ không huy động được đủ vốn (với chi phí hợp lý) để đầu tư như nói ở trên. Ngay cả đầu tư tư nhân cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi tiền làm ra được đổ vào ăn tiêu, mua sắm mà không dành cho đầu tư, không gửi tiết kiệm (do đó ngân hàng cũng sẽ không có đủ vốn để tài trợ cho các nhà đầu tư trong nước).
Tăng tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình còn chắc chắn sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn khác là tăng nhập khẩu (vì hàng hóa sản xuất trong nước không thể đáp ứng ngay và đầy đủ mọi nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng tăng lên đột xuất tại một thời điểm). Trong khi đó, xuất khẩu có thể lại giảm đi vì vốn đầu tư để duy trì hoặc mở rộng xuất khẩu đã bị cắt giảm để tài trợ cho tiêu dùng. Cho dù có giả định là xuất khẩu vẫn được giữ nguyên, nhưng với nhập khẩu tăng lên thì xuất khẩu ròng phải giảm đi tương ứng. Điều này, kết hợp với khả năng cả đầu tư và chi tiêu Chính phủ bị suy giảm, thậm chí lại còn làm giảm thay vì tăng GDP như lập luận của vị chuyên gia trên.


Dẫu vậy, phân tích như trên không có nghĩa là không nên kích thích tiêu dùng nội địa. Để tiêu dùng nội địa đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP thì cần phải thỏa mãn một số điều kiện mà có thể được rút ra cũng chính từ sự phân tích trên.
Điều kiện trước tiên là song song với kích thích tiêu dùng nội địa phải có những biện pháp kiểm soát, hạn chế nhập khẩu, từ đó kích thích các hoạt động sản xuất trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu tăng lên trong nước. Tuy vậy, thực hiện việc này không đơn giản trong bối cảnh có hàng loạt các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương mà Việt Nam đã cam kết.


Điều kiện thứ hai là đi kèm với tăng chi tiêu cá nhân và hộ gia đình thì cần phải có nguồn vốn bổ sung cần thiết để duy trì hoạt động đầu tư và chi tiêu Chính phủ thay thế cho nguồn vốn tiết kiệm từ khu vực cá nhân và hộ gia đình đã bị suy giảm. Nguồn vốn bổ sung này không gì khác chính là nguồn vốn vay nước ngoài. Nhưng nguồn vốn này có giới hạn vì động chạm đến các hạn mức vay nợ Chính phủ và tư nhân nên không thể trông chờ nhiều vào đó được.
Tóm lại, những giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kể trên nếu không thực hiện một cách đúng đắn và cẩn trọng thì thậm chí còn tạo ra tác động ngược đến tăng trưởng GDP.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).