Wednesday, 16 August 2017

Dự trữ ngoại hối: Kỷ lục nhưng đừng chủ quan! (Bài đăng trên CafeF, 16/8/2017)

http://cafef.vn/du-tru-ngoai-hoi-ky-luc-nhung-dung-chu-quan-20170816050108413.chn

Quả thật, nếu so với những năm trước thì dự trữ ngoại hối của Việt Nam năm nay đã cao hơn rất nhiều, như được thể hiện ở đồ thị dưới đây. Cụ thể, vào năm 2012, dự trữ ngoại hối của Việt Nam tụt xuống còn 25,4 tỷ USD. Con số này chỉ tăng mạnh vào năm 2014 lên mức 34,3 tỷ USD nhưng rồi lại giảm mạnh còn 28,4 tỷ năm 2015. Từ đó trở đi thì nó mới có xu hướng tăng ổn định như dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đạt 36,7 tỷ năm 2016, 42,2 tỷ năm 2017 và 48,6 tỷ năm 2018.



Nguồn: IMF Country Report No. 17/190 (7/2017); Ghi chú: Số liệu từ năm 2016 là dự báo

Tuy nhiên, điều đáng lưu tâm hơn là dự trữ ngoại hối trên quy ra tương đương với bao nhiêu tháng nhập khẩu. Đây là một chỉ tiêu phản ánh quy mô dự trữ ngoại hối của một quốc gia ở mức cao hay thấp, an toàn hay không an toàn.

Trong đồ thị trên, đường màu da cam cho biết dự trữ ngoại hối của Việt Nam vẫn chưa vượt quá mức 2,5 tháng nhập khẩu trong suốt mấy năm qua và một số năm tới (theo IMF, phải đến năm 2020 thì mức này mới đạt 2,7 tháng). Mà theo quy ước quốc tế thì dự trữ ngoại hối của một quốc gia phải tương đương với ít nhất là 3 tháng nhập khẩu thì mới an toàn để chống đỡ với các cơn sốc về cầu ngoại tệ. Như vậy, mặc dù dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã có những bước cải thiện đáng kể từ năm 2016 để đạt những “kỷ lục” mới trong những năm tiếp theo, nhưng những “kỷ lục” này vẫn chưa đủ lớn theo tiêu chuẩn chung của thế giới.

Quan trọng không kém là tuy về con số tuyệt đối thì đúng là dự trữ ngoại hối của Việt Nam năm 2017 là năm cao kỷ lục (42,2 tỷ USD) nhưng cần lưu ý là mức này chỉ tương đương với 2,3 tháng nhập khẩu của cùng năm, chỉ nhỉnh hơn một chút so với năm 2016 (2,2 tháng) và thậm chí còn thấp hơn cả năm 2014 (2,4 tháng).

Lý do của tình trạng trên là thực ra dự trữ ngoại hối của Việt Nam tuy có tăng lên nhưng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam còn tăng mạnh hơn, nên tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và kim ngạch nhập khẩu hầu như không có biến chuyển nhiều. Hàm ý của điều này một lần nữa cho thấy rằng dự trữ ngoại hối – chiếc gối đỡ giảm sốc cho nền kinh tế Việt Nam khỏi những biến động bên ngoài – vẫn còn “mỏng”, chưa an toàn, chưa đủ dập tắt mọi cơn sóng trồi sụt trên thị trường ngoại hối cũng như sự ổn định của tỷ giá.

Do đó, chính sách tiền tệ và ngoại hối trong thời gian tới cần tránh sự chủ quan, đừng chỉ nhìn con số tuyệt đối đang ở mức cao kỷ lục, để có những bước đi thích hợp nhằm tiếp tục cải thiện dự trữ ngoại hối hiểu theo mức tương đối (quy theo tháng nhập khẩu của Việt Nam) và không tạo thêm áp lực cho tỷ giá nếu muốn duy trì sự ổn định của nó trong những tháng tới.

Tuesday, 15 August 2017

Ứng xử với nạn “thích” tuyển lao động nước ngoài (Bài đăng trên TBKTSG, 15/8/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/163464/Ung-xu-voi-nan-thich-tuyen-lao-dong-nuoc-ngoai.html

Tỉnh Bình Thuận mới đây đã chấp thuận cho Công ty TNHH Vận hành kinh doanh Vĩnh Tân Điện lực Trung Quốc được tuyển 196 lao động nước ngoài để đáp ứng nhu cầu sử dụng của Nhà máy Nhiện điện Vĩnh Tân 1 ở xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong.
Thông tin trên một lần nữa lại gây quan ngại trong dư luận bởi liên quan đến lao động Trung Quốc, mặc dù tin tức cho biết trước đó công ty này đã thông qua Trung tâm Dịch vụ việc làm của tỉnh đăng tuyển rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng trên phạm vi cả nước nhưng không tuyển được người nào nên buộc phải chuyển sang tuyển lao động nước ngoài. Cũng cần biết thêm là tiêu chuẩn tuyển dụng là tốt nghiệp đại học trở lên, thông thạo tiếng Trung, tiếng Anh.


Trước khi bàn vào chủ đề chính, xin nói chuyện ngoài lề một chút. Cách đây vài năm người viết có tham gia một chuyến đi thăm thực địa tại một nhà máy nhiệt điện phía Bắc được xây dựng, lắp đặt thiết bị và vận hành bởi nhà thầu Trung Quốc. Bước vào các phòng điều hành, dễ nhận thấy toàn bộ ê kíp điều hành là người Trung Quốc. Máy móc, thiết bị, hệ thống phần cứng và phần mềm điều hành đương nhiên là được ghi bằng tiếng Trung.
Khách quan mà nói, trong môi trường như vậy mà “lọt” vào đó một vài người Việt không nói, đọc và viết thạo được tiếng Trung thì quả là chuyện không tưởng, không chỉ vì họ sẽ không làm được (một cách hiệu quả) công việc, mà còn gây khó dễ, thiệt hại cho phía nhà điều hành, nhà máy, bởi không lẽ phải bố trí cho mỗi một vị trí làm việc của người Việt một người phiên dịch Trung - Việt hay sao? Đó là chưa kể việc truyền đạt qua phiên dịch sẽ dễ dẫn đến tình trạng “chữ tác đánh chữ tộ” để rồi chất lượng công việc bị ảnh hưởng, thậm chí gây đình trệ.


Từ chuyện nhỏ trên, quay trở lại với chủ đề, có thể thấy vấn đề đầu tiên nằm ở việc phía Việt Nam dùng nhà thầu Trung Quốc, thiết bị, tài liệu và phần mềm của Trung Quốc (vốn để dùng trong nội địa Trung Quốc) nên mới dẫn đến tình trạng phải tuyển lao động Trung Quốc. Giả sử nếu các thiết bị máy móc, tài liệu và phần mềm bằng tiếng Anh, tiếng Việt, và nếu nhà thầu Trung Quốc sẽ tiến hành đào tạo, chuyển giao vận hành cho lao động Việt Nam thì có lẽ sẽ không mấy khó khăn để tuyển được số nhân viên cần thiết cho công việc tại nhà máy nhiệt điện ở Vĩnh Tân. Tương tự như vậy, nếu Việt Nam không chọn các nhà thầu xây dựng Trung Quốc thì chắc cũng không dẫn đến tình trạng các công trường xây dựng này “thích” tuyển lao động Trung Quốc, ít nhất là bởi, nói một cách công bằng, giao tiếp với nhau giữa các nhân viên quản lý, điều hành (là người Trung Quốc, đương nhiên) với công nhân xây dựng bằng cùng một thứ tiếng, tiếng Trung, sẽ là thuận lợi hơn rất nhiều cho công việc.
Nhưng từ vấn đề trên không thể tùy tiện suy ra một cách dễ dãi rằng Việt Nam không nên, không cần tuyển dụng, sử dụng nhà thầu và thiết bị Trung Quốc nữa thì sẽ tránh được tình trạng này. Vì, cũng phải nói một cách công bằng rằng trong không ít trường hợp việc sử dụng các yếu tố Trung Quốc này là có những lý do chính đáng.


Vậy thì vấn đề tiếp theo là phải bàn đến biện pháp “sống chung với lũ”, nếu không còn lựa chọn nào khác ngoài nhà thầu và thiết bị Trung Quốc. Biện pháp căn bản nhất đương nhiên sẽ là trực tiếp và gián tiếp khuyến khích nhà tuyển dụng Trung Quốc (trong ví dụ trên là các nhà thầu, nhà điều hành) tự giác tuyển dụng ít lao động Trung Quốc và thay vào đó là lao động Việt Nam. Nói cách khác, phải làm cho nhà tuyển dụng tự giác, thấy rõ được rằng họ sẽ có lợi hơn, ít tốn kém hơn nếu thực sự họ tìm thấy và tuyển được lao động Việt Nam đáp ứng được điều kiện tuyển dụng đặt ra như với lao động Trung Quốc.
Trên thực tế, việc nhà tuyển dụng Trung Quốc có tạo cơ hội bình đẳng trong tuyển dụng lao động người Việt tại Việt Nam hay không đang là “vùng xám”, gây nghi ngờ, thắc mắc, lo ngại trong dư luận, vì cho đến nay ở không ít công trường, cơ sở công nghiệp đã có sự hiện diện của nhiều lao động Trung Quốc mà nhìn vào công việc họ đang làm thì khó có thể nói đó là lao động kỹ thuật (cao) mà lao động địa phương không đáp ứng được. Ngay chính từ thông báo tuyển dụng tại nhà máy điện Vĩnh Tân trên cũng làm người ta nghi ngờ thực tâm của nhà tuyển dụng, vì tại sao đòi hỏi không chỉ tốt nghiệp đại học trở lên, không những phải thông thạo tiếng Trung mà còn cả tiếng Anh nữa? Những người đáp ứng được tất cả các tiêu chuẩn này có lẽ không nhiều, và chắc cũng chẳng mặn mà với công việc tại nhà máy này. Quan trọng hơn, những lao động Trung Quốc được tuyển dụng bởi nhà máy này nay mai sẽ có mấy người tốt nghiệp đại học và thông thạo tiếng Anh?


Đến đây, sẽ là hữu ích nếu tham khảo kinh nghiệm của các nước phải đương đầu với vấn đề lao động nước ngoài. Trong số này phải kể đến Singapore với nhiều biện pháp hữu hiệu được đưa ra trong vòng mấy năm qua để hạn chế lao động tay nghề thấp hoặc lao động giản đơn từ nước ngoài tràn vào, gây nhiều hệ lụy xã hội. Tất nhiên, tiền đề tham khảo ở đây là không có chuyện “tiếp tay” cho nhà tuyển dụng Trung Quốc của cán bộ ở các cơ quan quản lý hữu trách địa phương, một khả năng khó có thể phủ nhận hoàn toàn trên thực tế ở Việt Nam.
Những biện pháp hạn chế lao động nước ngoài của Singapore bao gồm: Hạ thấp hạn mức (hay trần) số lượng lao động nước ngoài mà công ty tại Singapore được phép tuyển dụng trên tổng số lao động của công ty; Nâng mức thuế đánh lên việc tuyển dụng lao động nước ngoài không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp; Hạn chế số lượng giấp phép lao động cấp mới hay hạn chế việc gia hạn giấy phép lao động hiện thời đối với những công ty nào không chứng tỏ được rằng đã nỗ lực tuyển dụng, đào tạo và phát triển cơ hội nghề nghiệp cho lao động bản địa (các công ty này sẽ bị liệt vào danh sách đen của Bộ Lao động nước này, và sẽ bị cấm vĩnh viễn tuyển lao động nước ngoài nếu một thời gian sau đó vẫn không cải thiện được tình hình).      


Các công ty trước khi tuyển dụng lao động nước ngoài cũng bị yêu cầu phải đăng quảng cáo việc làm cùng với mức lương dự kiến lên trang web quốc gia về việc làm tối thiểu trong 14 ngày để qua đó đánh giá được khả năng đáp ứng và mức độ hưởng ứng của lao động bản địa. Mức lương tối thiểu để lao động nước ngoài được cấp phép làm việc tại Singapore cũng được nâng lên đáng kể, làm tốn kém thêm cho các công ty tuyển dụng nếu họ vẫn cứ “thích” lao động nước ngoài.
Quan trọng không kém, để giảm thiểu khả năng “lách luật” của các công ty, Chính phủ Singapore tăng cường thanh tra, hậu kiểm việc tuyển dụng lao động nước ngoài và tăng nặng hình phạt với các công ty vi phạm. Nếu là trong ví dụ trên ở Việt Nam, việc thanh tra, hậu kiểm có thể sẽ tập trung vào yếu tố như trình độ ngoại ngữ và mức lương có đúng như đã quảng cáo trên mạng việc làm quốc gia hay không, có thật là không có lao động bản địa nào đáp ứng được hay quan tâm đến công việc này không…


Tóm lại, trong khi Việt Nam vẫn phải chấp nhận mở cửa cho lao động nước ngoài, gồm cả lao động Trung Quốc trong thời hội nhập, chứ không thể ngăn chặn với những lý do không mấy hợp pháp, chính đáng như họ sẽ lấy vợ Việt Nam, sinh con đẻ cái rồi lập ra “phố Tầu” ở Việt Nam…, điều mà Việt Nam cần và có thể làm được là ban hành và thực thi nghiêm các chính sách quản lý việc tuyển dụng lao động nước ngoài theo hướng đảm bảo ưu tiên cơ hội nghề nghiệp cho lao động Việt Nam theo kinh nghiệm quốc tế. Song song với đó, chất lượng thực thi và giám sát thực thi pháp luật của các cơ quan hữu trách địa phương cũng cần phải được đảm bảo để không dẫn đến tình trạng thỏa hiệp với nhà tuyển dụng nước ngoài gây phương hại đến lợi ích quốc gia.

Tuesday, 8 August 2017

Những bất cập có thể thấy trước (Bài đăng trên TBKTSG, 8/8/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt)

http://www.thesaigontimes.vn/163206/Nhung-bat-cap-co-the-thay-truoc.html

Mới đây Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam (AVR) đã đề xuất Chính phủ thành lập một tập đoàn bán lẻ trên cơ sở “bắt tay” của bốn đại gia hàng đầu trong các nhà bán lẻ hiện nay, gồm Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Sài Gòn (Saigon Co.op), Tập đoàn Phú Thái (PhuThai Group), Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) và Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (Hapro). (1)


Đã từng thất bại


Theo AVR, trước đây Chính phủ từng rất ủng hộ, kỳ vọng mô hình trên sẽ hỗ trợ rất nhiều cho thị trường bán lẻ, tuy nhiên mô hình đó đã thất bại. Một trong những nguyên nhân chính là không tiếp cận được mặt bằng tại các tỉnh muốn phát triển.


Tuy AVR không nói rõ mô hình thất bại là mô hình nào nhưng đó có thể là mô hình Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA) – một sản phẩm được cho ra đời từ năm 2007 bởi sự “bắt tay” giữa chính bốn đại gia nêu trên. Đại diện VDA cho biết, (theo định hướng) VDA sẽ trở thành công ty mẹ và đảm nhận những việc mà một doanh nghiệp đơn lẻ không thể làm được. Việc tập hợp lại cơ sở vật chất, hệ thống mặt bằng, vốn, kinh nghiệm, thị trường, hàng hóa… của bốn đại gia trên sẽ rất lớn. Khi VDA thành công thì các nhà đầu tư nước ngoài phải cân nhắc khi muốn thâu tóm hệ thống phân phối, logistic tại Việt Nam.


Phân trần cho sự thất bại của mô hình VDA, đại diện công ty này đổ lỗi cho cơ chế, chính sách không đồng bộ và từ chính sách đến thực tiễn còn một khoảng cách xa. Cụ thể, về chính sách đất đai, một số địa phương sẵn sàng ủng hộ mặt bằng, một số địa phương thì không. Đồng thời, chủ trương thoái vốn của Nhà nước đã buộc Satra và Hapro phải thoái vốn khỏi VDA, trong khi hai thành viên còn lại thì không đủ tiềm lực.


Hình dong của mô hình “bắt tay” kiểu mới


Trong khi không thấy AVR nói gì thêm về mô hình mới sẽ cụ thể là như thế nào, đại diện VDA lại cho biết họ đang kêu gọi thành lập một tập đoàn bán lẻ kiểu mới với nhiều điểm khác với mô hình cũ. Ví dụ, bất cứ thành phần nào cũng có thể tham gia mô hình này. Đặc biệt là không thực hiện theo cơ chế đồng thuận như mô hình cũ nữa - mỗi thành viên góp vốn 25% - mà ai bỏ vốn vào nhiều sẽ điều hành.


Bên cạnh đó, tập đoàn bán lẻ mới cũng có ý định thành lập hệ thống siêu thị nông nghiệp. Nông dân khi vào siêu thị này sẽ mua được tất cả từ con giống, phân bón đến thức ăn, máy móc… đúng giá, không sợ mua hàng giả.


Những bất cập


Có thể thấy chủ trương thành lập một mô hình “bắt tay” kiểu mới như nêu ở trên vẫn chủ yếu nhằm mục đích thành lập cho được một tập đoàn có quy mô lớn tận dụng lợi thế thuộc tốp đầu về doanh thu của cả bốn thành viên trên. Tuy nhiên, sự cùng bỏ vốn bởi các thành viên, bất kể tỷ lệ sở hữu bao nhiêu, sẽ luôn chỉ cho ra đời một công ty con có quy mô nhỏ hơn quy mô của các công ty thành viên này cộng lại. Hơn nữa, tùy thuộc vào mức độ có thể đóng góp vốn của các công ty thành viên, bất chấp quy mô lớn, dẫu đầu thị trường của chúng, quy mô của công ty con của chúng hoàn toàn có thể rất khiêm tốn.


Cụ thể hơn, mặc dù quy mô doanh thu hợp nhất của bốn đại gia nói trên được cho là lên tới 4-5 tỷ đô la Mỹ nhưng nếu mỗi đại gia trong số này chỉ có thể huy động và góp được trung bình là 100 triệu đô la thì quy mô vốn của “tập đoàn” mới cũng chỉ là 400 triệu đô la mà thôi, có khi chỉ tương đương hoặc nhỉnh hơn quy mô của một trong bốn thành viên này, tức là còn lâu mới đủ sức dẫn dắt thị trường và làm e ngại các đại gia bán lẻ nước ngoài đang nhòm ngó, thôn tính thị trường bán lẻ Việt Nam như ý đồ của AVR và VDA.


Đến đây, một vấn đề nảy sinh khác là dù có quy mô nhỏ hay lớn nhưng do vì hoạt động trong cùng lĩnh vực, thị trường, và địa bàn nên “tập đoàn” bán lẻ mới này sẽ tự nhiên trở thành một đối thủ cạnh tranh mới, quay trở lại đối đầu trực tiếp với các “đấng sinh thành” ra nó. Điều này có nghĩa là bên cạnh nỗi chật vật phải đối phó với các đối thủ nội và ngoại hiện có, bốn đại gia trên lại còn thêm vất vả đối mặt với một đối thủ mới mà rất có thể là ghê gớm vì nó được thừa hưởng tất cả những yếu tố lợi thế được “di truyền” từ các doanh nghiệp bố mẹ. Tính bất trắc và xung đột lợi ích như thế này đương nhiên sẽ là điều không được bốn đại gia bán lẻ hoan nghênh nếu họ nhìn ra, thấy trước được vấn đề.


Giải pháp ổn thỏa duy nhất cho những vấn đề trên là bốn đại gia trên tự nguyện sáp nhập, hợp nhất với nhau tạo ra một “đại tập đoàn” bán lẻ mới hầu như không có đối thủ trong nước, và tha hồ rảnh tay đối phó với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài. Nhưng giải pháp này chắc chắn là bất khả thi không chỉ vì khó có thể tìm tiếng nói chung giữa cả bốn bên và các cổ đông của họ trong vấn đề này, mà còn bởi luật pháp sẽ không cho phép sự hình thành của một tổ chức như vậy khi dẫn đến khả năng thâu tóm, lũng đoạn thị trường, hạn chế và triệt tiêu cạnh tranh.


Ngay cả với dự định tốt đẹp về thành lập siêu thị nông nghiệp mà đại diện VDA nêu ra cũng không có gì đảm bảo là sẽ xảy ra đúng như ý đồ, như tuyên bố. Với kiểu “một mình một chợ” nhờ quy mô lớn (nếu đúng như kế hoạch), đánh bại các doanh nghiệp phân phối nhỏ lẻ hơn trong ngành thì điều chắc chắn là giá bán trong siêu thị này sẽ là “đúng giá”, nhưng mà là giá của họ niêm yết, chứ không phải là giá trên thị trường khi có sự cạnh tranh giữa nhiều nhà cung cấp, phân phối! Và trong trường hợp này thì lại càng cần có sự tham gia của các nhà bán lẻ, phân phối ngoại để làm đối trọng với vị thế lũng đoạn thị trường của “tập đoàn” mới này.


Tóm lại, đề xuất các đại gia bán lẻ nội địa bắt tay với nhau để cho ra đời một “tập đoàn” bán lẻ quy mô lớn, đặc biệt là khi lôi kéo theo sự can thiệp của nhà nước, không chỉ tự thân là điều bất khả thi, thậm chí gây tác dụng ngược, mà còn không phải là giải pháp đối phó với sự cạnh tranh từ các nhà bán lẻ, phân phối nước ngoài.


(1)   http://cafef.vn/bon-dai-gia-viet-bat-tay-dau-voi-doanh-nghiep-ngoai-20170721071906953.chn

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).