Tuesday, 8 August 2017

Những bất cập có thể thấy trước (Bài đăng trên TBKTSG, 8/8/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt)

http://www.thesaigontimes.vn/163206/Nhung-bat-cap-co-the-thay-truoc.html

Mới đây Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam (AVR) đã đề xuất Chính phủ thành lập một tập đoàn bán lẻ trên cơ sở “bắt tay” của bốn đại gia hàng đầu trong các nhà bán lẻ hiện nay, gồm Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Sài Gòn (Saigon Co.op), Tập đoàn Phú Thái (PhuThai Group), Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) và Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (Hapro). (1)


Đã từng thất bại


Theo AVR, trước đây Chính phủ từng rất ủng hộ, kỳ vọng mô hình trên sẽ hỗ trợ rất nhiều cho thị trường bán lẻ, tuy nhiên mô hình đó đã thất bại. Một trong những nguyên nhân chính là không tiếp cận được mặt bằng tại các tỉnh muốn phát triển.


Tuy AVR không nói rõ mô hình thất bại là mô hình nào nhưng đó có thể là mô hình Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA) – một sản phẩm được cho ra đời từ năm 2007 bởi sự “bắt tay” giữa chính bốn đại gia nêu trên. Đại diện VDA cho biết, (theo định hướng) VDA sẽ trở thành công ty mẹ và đảm nhận những việc mà một doanh nghiệp đơn lẻ không thể làm được. Việc tập hợp lại cơ sở vật chất, hệ thống mặt bằng, vốn, kinh nghiệm, thị trường, hàng hóa… của bốn đại gia trên sẽ rất lớn. Khi VDA thành công thì các nhà đầu tư nước ngoài phải cân nhắc khi muốn thâu tóm hệ thống phân phối, logistic tại Việt Nam.


Phân trần cho sự thất bại của mô hình VDA, đại diện công ty này đổ lỗi cho cơ chế, chính sách không đồng bộ và từ chính sách đến thực tiễn còn một khoảng cách xa. Cụ thể, về chính sách đất đai, một số địa phương sẵn sàng ủng hộ mặt bằng, một số địa phương thì không. Đồng thời, chủ trương thoái vốn của Nhà nước đã buộc Satra và Hapro phải thoái vốn khỏi VDA, trong khi hai thành viên còn lại thì không đủ tiềm lực.


Hình dong của mô hình “bắt tay” kiểu mới


Trong khi không thấy AVR nói gì thêm về mô hình mới sẽ cụ thể là như thế nào, đại diện VDA lại cho biết họ đang kêu gọi thành lập một tập đoàn bán lẻ kiểu mới với nhiều điểm khác với mô hình cũ. Ví dụ, bất cứ thành phần nào cũng có thể tham gia mô hình này. Đặc biệt là không thực hiện theo cơ chế đồng thuận như mô hình cũ nữa - mỗi thành viên góp vốn 25% - mà ai bỏ vốn vào nhiều sẽ điều hành.


Bên cạnh đó, tập đoàn bán lẻ mới cũng có ý định thành lập hệ thống siêu thị nông nghiệp. Nông dân khi vào siêu thị này sẽ mua được tất cả từ con giống, phân bón đến thức ăn, máy móc… đúng giá, không sợ mua hàng giả.


Những bất cập


Có thể thấy chủ trương thành lập một mô hình “bắt tay” kiểu mới như nêu ở trên vẫn chủ yếu nhằm mục đích thành lập cho được một tập đoàn có quy mô lớn tận dụng lợi thế thuộc tốp đầu về doanh thu của cả bốn thành viên trên. Tuy nhiên, sự cùng bỏ vốn bởi các thành viên, bất kể tỷ lệ sở hữu bao nhiêu, sẽ luôn chỉ cho ra đời một công ty con có quy mô nhỏ hơn quy mô của các công ty thành viên này cộng lại. Hơn nữa, tùy thuộc vào mức độ có thể đóng góp vốn của các công ty thành viên, bất chấp quy mô lớn, dẫu đầu thị trường của chúng, quy mô của công ty con của chúng hoàn toàn có thể rất khiêm tốn.


Cụ thể hơn, mặc dù quy mô doanh thu hợp nhất của bốn đại gia nói trên được cho là lên tới 4-5 tỷ đô la Mỹ nhưng nếu mỗi đại gia trong số này chỉ có thể huy động và góp được trung bình là 100 triệu đô la thì quy mô vốn của “tập đoàn” mới cũng chỉ là 400 triệu đô la mà thôi, có khi chỉ tương đương hoặc nhỉnh hơn quy mô của một trong bốn thành viên này, tức là còn lâu mới đủ sức dẫn dắt thị trường và làm e ngại các đại gia bán lẻ nước ngoài đang nhòm ngó, thôn tính thị trường bán lẻ Việt Nam như ý đồ của AVR và VDA.


Đến đây, một vấn đề nảy sinh khác là dù có quy mô nhỏ hay lớn nhưng do vì hoạt động trong cùng lĩnh vực, thị trường, và địa bàn nên “tập đoàn” bán lẻ mới này sẽ tự nhiên trở thành một đối thủ cạnh tranh mới, quay trở lại đối đầu trực tiếp với các “đấng sinh thành” ra nó. Điều này có nghĩa là bên cạnh nỗi chật vật phải đối phó với các đối thủ nội và ngoại hiện có, bốn đại gia trên lại còn thêm vất vả đối mặt với một đối thủ mới mà rất có thể là ghê gớm vì nó được thừa hưởng tất cả những yếu tố lợi thế được “di truyền” từ các doanh nghiệp bố mẹ. Tính bất trắc và xung đột lợi ích như thế này đương nhiên sẽ là điều không được bốn đại gia bán lẻ hoan nghênh nếu họ nhìn ra, thấy trước được vấn đề.


Giải pháp ổn thỏa duy nhất cho những vấn đề trên là bốn đại gia trên tự nguyện sáp nhập, hợp nhất với nhau tạo ra một “đại tập đoàn” bán lẻ mới hầu như không có đối thủ trong nước, và tha hồ rảnh tay đối phó với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài. Nhưng giải pháp này chắc chắn là bất khả thi không chỉ vì khó có thể tìm tiếng nói chung giữa cả bốn bên và các cổ đông của họ trong vấn đề này, mà còn bởi luật pháp sẽ không cho phép sự hình thành của một tổ chức như vậy khi dẫn đến khả năng thâu tóm, lũng đoạn thị trường, hạn chế và triệt tiêu cạnh tranh.


Ngay cả với dự định tốt đẹp về thành lập siêu thị nông nghiệp mà đại diện VDA nêu ra cũng không có gì đảm bảo là sẽ xảy ra đúng như ý đồ, như tuyên bố. Với kiểu “một mình một chợ” nhờ quy mô lớn (nếu đúng như kế hoạch), đánh bại các doanh nghiệp phân phối nhỏ lẻ hơn trong ngành thì điều chắc chắn là giá bán trong siêu thị này sẽ là “đúng giá”, nhưng mà là giá của họ niêm yết, chứ không phải là giá trên thị trường khi có sự cạnh tranh giữa nhiều nhà cung cấp, phân phối! Và trong trường hợp này thì lại càng cần có sự tham gia của các nhà bán lẻ, phân phối ngoại để làm đối trọng với vị thế lũng đoạn thị trường của “tập đoàn” mới này.


Tóm lại, đề xuất các đại gia bán lẻ nội địa bắt tay với nhau để cho ra đời một “tập đoàn” bán lẻ quy mô lớn, đặc biệt là khi lôi kéo theo sự can thiệp của nhà nước, không chỉ tự thân là điều bất khả thi, thậm chí gây tác dụng ngược, mà còn không phải là giải pháp đối phó với sự cạnh tranh từ các nhà bán lẻ, phân phối nước ngoài.


(1)   http://cafef.vn/bon-dai-gia-viet-bat-tay-dau-voi-doanh-nghiep-ngoai-20170721071906953.chn

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).