Friday, 10 November 2017

So sức khỏe DNNN qua ba năm (Bài đăng trên TBKTSG, 10/11/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/166394/So-suc-khoe-DNNN-qua-ba-nam.html

Tháng 10-2017, Chính phủ đã trình Quốc hội báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2016. Báo cáo này và các báo cáo tương tự trong các năm trước cho thấy một số thực tế đáng chú ý về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong thời gian qua.

Bệnh “nhờn” luật trầm trọng

Một điểm chắc rất ít người để ý nhưng khá quan trọng đó là sự coi thường luật pháp của một số DNNN và các cơ quan chủ quản của các doanh nghiệp này, có thể gọi thẳng là như vậy.

Trong báo cáo năm 2016, số lượng DNNN mà Chính phủ thu thập được số liệu để làm báo cáo là 492. Con số này nhỏ hơn các năm trước. Ngoài lý do là một số DNNN chính thức chuyển thành công ty cổ phần, báo cáo cũng nêu lý do khác là do thiếu số liệu báo cáo của các doanh nghiệp độc lập do Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế làm chủ sở hữu. Trong báo cáo năm 2015, lý do trên - thiếu số liệu do các doanh nghiệp không báo cáo - cũng được nêu ra. Nếu lần ngược trở lại năm 2014, vẫn thấy có lý do này.


Điều này cho thấy sự coi thường những quy định pháp luật về chế độ báo cáo tình hình hoạt động của các DNNN không có dấu hiệu giảm sút, bất chấp mọi nỗ lực khắc phục căn bệnh này trong các năm qua. Đáng chú ý hơn, sự vi phạm này không chỉ diễn ra một lần (một năm) mà còn tái diễn trong các năm sau. Cụ thể, ba cơ quan chủ sở hữu các doanh nghiệp không báo cáo số liệu gồm Bộ Công Thương, NHNN và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đều được nêu tên trong hai năm liền, 2015 và 2016. Lưu ý thêm là người viết mới chỉ so sánh tình hình này trong ba năm, từ 2014-2016, mà không rõ các năm trước có xảy ra tình trạng này hay không.

Lợi nhuận sụt giảm

Số liệu tài chính từ các báo cáo trong ba năm từ 2014-2016 được tổng hợp vắn tắt ở bảng 1. Dù số lượng DNNN báo cáo sụt giảm mạnh nhưng tổng tài sản thậm chí lại tăng nhẹ trong năm 2016. Vốn chủ sở hữu còn tăng mạnh hơn (theo giải thích là chủ yếu từ nguồn quỹ đầu tư phát triển được trích lập từ lợi nhuận sau thuế và chênh lệch đánh giá lại tài sản và thặng dư vốn thu được trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp thành viên, đơn vị phụ thuộc của DNNN).
Mặt khác, do số lượng DNNN báo cáo đã giảm mạnh qua từng năm nên đương nhiên là tổng doanh thu và lợi nhuận trước thuế của các DNNN có báo cáo cũng đã suy giảm. Nhưng điều đáng lưu ý là tốc độ sụt giảm lợi nhuận trước thuế mạnh hơn tốc độ sụt giảm doanh thu, và hoàn toàn đi ngược với xu hướng tăng lên về tài sản và vốn chủ sở hữu. Điều này cho thấy hiệu quả hoạt động của các DNNN nếu đánh giá trên chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế ngày càng có xu hướng suy giảm trong những năm qua.
Thực tế trên cũng phần nào được minh họa qua tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu cũng có xu hướng đi xuống, dù không thể phủ nhận sự khác biệt về phạm vi/số lượng DNNN báo cáo (tức là khác biệt về mẫu thống kê) cũng có thể góp phần vào sự suy giảm này.
Điều khá ngạc nhiên là tổng số phát sinh phải nộp ngân sách nhà nước (NSNN) lại tăng lên trong năm 2016 bất chấp doanh thu và lợi nhuận trước thuế suy giảm. Không có lý do nào được nêu ra trong báo cáo để giải thích hiện tượng này. Tuy nhiên, đây mới là khoản phải nộp mà không rõ trên thực tế Nhà nước có thu được đầy đủ các khoản phải nộp này không hay đã bị nợ đọng, trì hoãn.

Chỉ số an toàn hoạt động cải thiện nhẹ

Báo cáo không cho biết các chỉ tiêu cụ thể như tồn kho, vay nợ, nguồn vốn của tổng thể các DNNN trong từng năm nên ở đây ta sẽ dùng các con số thống kê tương ứng cho khối các tập đoàn kinh tế (TĐKT), tổng công ty (TCT), và công ty mẹ - con, vốn chiếm phần lớn giá trị của tất cả các DNNN để phân tích một số khía cạnh có liên quan. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý lại một lần nữa rằng các kết quả phân tích ở phần này có thể vẫn bị ảnh hưởng phần nào bởi sự thay đổi mẫu thống kê qua các năm.

Có thể thấy một sự khá nhất quán về xu hướng cải thiện của TĐKT trên các chỉ tiêu chọn lọc ở bảng 2. Trong khi tổng tài sản tiếp tục tăng (dù số lượng doanh nghiệp nhỏ đi), mức tăng của nợ phải thu có chiều hướng chậm lại và chậm hơn mức tăng tổng tài sản. Đặc biệt, mức nợ phải thu khó đòi cũng đã tăng chậm lại, thậm chí còn tụt giảm trong năm 2016, bù vào chuyện tỷ lệ nợ phải thu trên tổng tài sản tăng nhẹ hoặc không thay đổi trong ba năm qua. Đây là những chỉ báo tích cực về tình hình công nợ của DNNN.

Tỷ lệ tồn kho trên tổng tài sản đã giảm hoặc theo hướng ổn định cho thấy mối lo về tồn kho đã vơi bớt phần nào, không quá căng thẳng như các năm trước.

Về chuyện nợ nần, mức tăng nợ đã “khiêm tốn” hơn từ năm 2015, đặc biệt là khi hệ số tổng nợ phải trả trên tổng nguồn vốn giảm dần liên tục trong ba năm qua, trong khi tổng tài sản tiếp tục tăng. Thực tế này cho thấy gánh nặng nợ vay tại các DNNN đã có dấu hiệu cải thiện.

Nhờ vốn chủ sở hữu tăng (từ các nguồn nêu ở trên) nên hệ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản cũng tăng dần, cho thấy mức an toàn hoạt động của DNNN nhìn chung cũng đã có sự cải thiện nhę.

Tóm lại, qua báo cáo của Chính phủ, tuy vẫn còn hạn chế về phạm vi và tính nhất quán về thông tin được cung cấp, có thể thấy một bức tranh đan xen sáng tối liên quan đến DNNN, từ chuyện không tuân thủ quy định về báo cáo của không chỉ DNNN mà còn của cơ quan chủ quản, đến chuyện hiệu quả hoạt động (thể hiện ở mức sinh lợi) có xu hướng suy giảm song song với sự cải thiện nhẹ về chỉ số an toàn hoạt động.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).