Sunday, 1 April 2018

Thu thuế hay tịch thu - chỉ là xử lý hậu quả (Bài đăng trên TBKTSG, 2/4/2018, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/270682/Thu-thue-hay-tich-thu---chi-la-xu-ly-hau-qua.html

Chính phủ đang trình Quốc hội xem xét đưa vào trong dự án Luật phòng chống tham nhũng (sửa đổi) đề xuất truy thu thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 45% với tài sản, thu nhập lớn hơn tài sản, thu nhập đã kê khai, hoặc không giải trình hợp lý. Ngoài ra, Chính phủ cũng thêm rằng việc truy thu thuế này không loại trừ việc xử lý trách nhiệm hình sự và tịch thu tài sản đối với người kê khai, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự khác chứng minh được tài sản kê khai không trung thực, tài sản tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý có được hoặc có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. 
Tuy nhiên, cũng có nhiều người cho rằng nếu không chứng minh được nguồn gốc hoặc giải trình không rõ ràng, minh bạch thì phải coi là tài sản bất minh, cần tịch thu , xử lý trách nhiệm hình sự chứ không chỉ đánh thuế cao như đề xuất.
Cả hai luồng ý kiến trên đều hoặc là cực đoan hóa hoặc bỏ sót những trường hợp nằm trong vùng xám.
Với trường hợp đánh thuế thu nhập cá nhân 45%, mức thuế này không là gì cả, không có tác dụng phòng chống tham nhũng. Nếu tài sản do tham nhũng mà có thì dù có bị đánh thuế, người tham nhũng vẫn còn thu về được 55% tài sản tham nhũng, tức là tài sản do phạm pháp (ăn cắp) mà có. Lẽ ra, trong những trường hợp này, nếu chứng minh được đây là tài sản tham nhũng thì tài sản này cần bị tịch thu và người tham nhũng cần bị xử lý hình sự, như luồng ý kiến thứ hai nêu trên đề xuất.
Nhưng nếu tài sản, thu nhập là “bất minh” ở dưới giác độ là chủ sở hữu tài sản này không giải trình được (hợp lý) tại sao mà có, trong khi cơ quan hữu trách cũng không có bằng chứng gì chỉ ra được rằng đây là tài sản, thu nhập có được từ tham nhũng thì rõ ràng trong trường hợp này không thể chỉ duy nhất áp dụng chung thuế suất thuế thu nhập 45% được như đề xuất của Chính phủ, mà cũng chẳng tịch thu được như luồng ý kiến phản đối.
Hướng xử lý trong những trường hợp vùng xám này sẽ khác nhau. Chẳng hạn, nếu đương sự giải trình rằng tài sản, thu nhập có được là do hoạt động sản xuất, kinh doanh (hợp pháp, nhưng không đăng ký, khai báo về thu nhập) thì cần truy thu thuế theo thuế suất phạt như trong các quy định pháp luật hiện hành (không nhất thiết là 45%) và, nếu nghiêm trọng/cần thiết, cần truy cứu trách nhiệm hình sự tội trốn thuế, gian lận thuế.
Như trong trường hợp của một vị quan chức nọ nói là buôn chổi đót mà có được bất động sản triệu đô, chừng nào cơ quan chức năng không chứng minh được điều gì khác thì có lẽ đành phải chấp nhận lời giải trình này. Điều mà cơ quan chức năng có thể và cần phải làm trong trường hợp này là truy thu thuế thu nhập cá nhân theo quy định hiện hành về hành vi trốn thuế, và, nếu cần thiết, phải xử lý hình sự tội kinh doanh trốn thuế (do quy mô lớn của hành vi này). Còn việc tịch thu tài sản trong trường hợp này hoặc các trường hợp tương tự khác thì là vô căn cứ, dù ai cũng cho/biết rằng giải trình nguồn gốc tài sản lớn như vậy từ buôn chổi đót là không hợp lý.
Cũng có nhiều trường hợp hợp lý hóa tài sản là do được thừa kế, biếu tặng. Tuy nhiều trong những trường hợp này xem ra rất đáng ngờ nhưng bởi cũng chẳng có bằng chứng gì khác chống lại đương sự (trừ khi, ví dụ, chứng minh được nguồn gốc phi pháp của tài sản thừa kế, biếu tặng này) nên hãy chấp nhận như vậy, và xử lý theo các điều khoản pháp luật hiện hành tương ứng về thừa kế, biếu tặng…, mà không thể tịch thu được những tài sản này.
Những ví dụ và trường hợp nêu trên cho thấy xử lý bằng việc truy thu thuế (ở một mức ấn định, 45%) với tài sản, thu nhập “bất minh” hoặc tịch thu tài sản, thu nhập này là không thỏa đáng. Quan trọng hơn, đây chỉ là việc xử lý hậu quả (và phần lớn cũng đã được chế tài trong khuôn khổ pháp luật hiện thời), trong khi điều cần làm trước tiên là phải làm tốt, làm nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập của quan chức cũng như việc thẩm tra, theo dõi, giám sát việc kê khai và thay đổi tài sản, thu nhập quan chức từ các cơ quan chức năng liên đới, đồng thời xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm các quy định liên quan này.
Để việc kê khai và kiểm tra tài sản, thu nhập là bộ lọc hữu hiệu đầu tiên trong công tác phòng chống tham nhũng thì cần thiết phải đưa vào luật sửa đổi một số điều khoản cứng rắn như, ví dụ, nếu phát hiện ra cán bộ nào không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập thì lập tức sẽ bị cách chức, đình chỉ công tác (bất luận vì lý do gì).
Tiếp đó, các thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập cần được công khai rộng rãi ra công chúng (thông qua, ví dụ, đăng tải trên website của cơ quan), chứ không chỉ bó gọn trong phạm vi cơ quan, đoàn thể nơi người này công tác trong nhiều trường hợp, như trong dự thảo luật hiện nay. Muốn thành tâm phòng chống tham nhũng và có hiệu quả thì càng phải minh bạch tài sản, thu nhập của những công bộc ăn lương từ tiền thuế của dân như kinh nghiệm các nước minh bạch với tham nhũng đã cho thấy. 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).