Wednesday, 4 July 2018

“Gian nan” xử lý nợ đọng thuế - có thật không? (Bài đăng trên TBKTSG, 4/7/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/274393/gian-nan-xu-ly-no-dong-thue--co-that-khong-.html


Xử lý nợ đọng thuế đã thành vấn đề lớn từ hàng chục năm nay với việc Bộ Tài chính liên tục đề xuất những giải pháp hoặc đề nghị sửa đổi luật lệ liên quan đến quản lý thuế, còn báo chí thì giật những tít mà chỉ nghe thôi đã thấy rõ sự bế tắc, đại loại như “Gian nan xử lý nợ đọng thuế”.

Cắc cớ cái cớ!

Tại sao lại có sự “gian nan” này? Một trong những lý do, căn cứ mà Bộ Tài chính thường xuyên đưa ra để biện minh cho việc để phát sinh và tồn đọng nợ thuế là người kinh doanh thua lỗ, ngừng kinh doanh, hoặc giải thể, nhất là trong giai đoạn kinh tế đi xuống từ năm 2007 -2012, nên không có khả năng thu hồi thuế (nợ đọng).

Giải thích trên nghe rất hợp lý. Nhưng hãy thử “diễn nôm” việc ai đó nợ thuế nhà nước thành chuyện nợ nần dân sự. Tuy tôi nợ anh nhưng tôi khó khăn, hết tiền nên tôi không thể trả anh được. Do đó, tốt nhất là anh quên món nợ này của tôi đi, vì dù anh có nhớ, có cố gắng đòi thì tôi cũng không trả và/hoặc không muốn, không thể trả được!

Đương nhiên là không có chủ nợ nào lại có thể cả tin, dễ dàng buông xuôi trước con nợ như vậy cả! Nên họ sẽ phải vận dụng nhiều cách đòi nợ khác nhau, từ ôn hòa như vận động, thuyết phục, van nài, kể khổ… đến những biện pháp cứng rắn hơn, gồm biện pháp pháp lý là thuê công ty đòi nợ thuê, kiện ra tòa, và cả những biện pháp bất hợp pháp như đe dọa, thuê “đầu gấu”, chiếm giữ tài sản của con nợ…

Trở lại chuyện nợ đọng thuế, với chủ nợ là nhà nước, đại diện là cán bộ thuế của Bộ Tài chính. Thử hỏi họ đã ráo riết, “quyết liệt” xử lý chuyện nợ đọng thuế như thế nào? Câu trả lời là khá thất vọng.

Ví dụ, tra tìm trên Internet thì thấy có một tin vào tháng 3/2015 nói rằng Tổng cục Thuế vừa ban hành văn bản hướng dẫn Cục thuế Khánh Hòa về cưỡng chế thuế với người nợ tiền thuế quá 90 ngày (1). Điều này có nghĩa là bất chấp tình hình nợ đọng thuế ngày càng gia tăng trong vòng hơn chục năm qua, nhưng mãi đến năm 2015 ngành thuế vẫn chưa có giải pháp cưỡng chế thuế thống nhất trong toàn quốc. Nói cách khác, việc xử lý nợ đọng thuế từ trước đến nay hầu như vẫn mạnh ai người đó làm, không được quy định và hướng dẫn một cách đầy đủ, thống nhất thành luật.

Chưa hết, nếu có tra cứu thêm thông tin về các trường hợp người nợ đọng thuế bị cưỡng chế thuế, bị truy tố vì tội chây ỳ không nộp thuế trên cả nước thì kết quả cũng khá nghèo nàn, chứng tỏ ngành thuế chưa cứng rắn, mạnh tay “quyết liệt” xử lý nợ đọng thuế như họ lẽ ra đã phải làm.    

Những giải pháp “rắn” đã vậy, còn về những giải pháp “mềm” thì mãi cho đến gần đây mới nghe thấy một địa phương là Hà Nội đề xuất áp dụng giải pháp mời người nợ thuế lên cơ quan thuế để “động viên” họ nộp thuế, trên cơ sở “lắng nghe, chia sẻ, tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế”.(2) Lưu ý thêm đây cũng chỉ mới là đề xuất.

Như vậy, qua những tóm tắt ở trên có thể thấy ngành thuế đã rất chậm chễ và không làm tròn trách nhiệm “đòi nợ” cho ngân khố quốc gia nên nguyên nhân của nạn gia tăng thuế nợ đọng chủ yếu là có tính chủ quan chứ không phải khách quan (khủng hoảng kinh tế, người kinh doanh khó khăn, phá sản, đóng cửa…) như Bộ Tài chính thường biện giải.

Hãy cứ làm tròn trách nhiệm!

Phân tích ở trên cho thấy để xử lý thành công nợ đọng thuế thì trước hết và quan trọng nhất là ngành thuế phải làm tròn, làm tốt trách nhiệm thu thuế của mình, thay vì đổ lỗi cho khách quan rồi tự “giải cứu” cho mình bằng cách liên tục đề xuất xóa nợ thuế.

Cụ thể hơn, đành rằng có thể có nhiều nguyên nhân bất khả kháng dẫn tình trạng mất khả năng trả thuế, nhưng không vì thế mà cho rằng mọi trường hợp nợ đọng thuế đều đáng, đều cần được xóa nợ thuế. Trách nhiệm của ngành thuế là phải phân loại từng khoản nợ đọng thuế như cách ngành ngân hàng phân loại nợ xấu, để có giải pháp xử lý thích hợp.

Với những trường hợp chây ỳ, ngành thuế trước hết cần tiến hành tất cả các biện pháp cưỡng chế, kể cả chuyển cơ quan chức năng truy tố tội trốn, không nộp thuế. Chừng nào chưa thực hiện tất cả những biện pháp này để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật thì chừng đó ngành thuế chưa có cơ sở để kết luận rằng khoản nợ thuế này “không có khả năng thu hồi” để đề xuất xóa nợ thuế được.

Với trường hợp nợ thuế vì lý “khách quan” như kinh doanh khó khăn, đóng cửa, phá sản… thì trước hết vẫn cần phải truy trách nhiệm của cán bộ thuế bởi đã không đôn đốc người có nghĩa vụ nộp thuế phải trả thuế đúng hạn, để đến lúc con nợ ngừng kinh doanh, đóng cửa, phá sản thì lại “dán nhãn” cho món nợ này thành “không có khả năng thu hồi” rồi đề xuất xóa nợ. Cũng không loại trừ động cơ tư lợi của cán bộ thuế trong những trường hợp này. Do đó, quy trách nhiệm cho cán bộ thuế cũng là một động thái cần thiết để ngăn ngừa nợ đọng thuế tiếp tục phát sinh như đang chứng kiến hiện nay, dù không còn chuyện “khủng hoảng” hay “kinh tế khó khăn” để mà đổ lỗi như trước nữa.

Quan trọng không kém là xử lý nợ đọng thuế cần tránh dẫn đến đề xuất tăng thêm nhân lực (và cơ sở vật chất) cho ngành thuế với lý do là “làm không xuể”, không đủ người để theo dõi, đôn đốc trả nợ thuế. Bên cạnh chuyện ngành thuế đang quá dư thừa biên chế đến mức phải giải thể, sáp nhập các chi cục thuế ở một số địa phương, phân tích ở trên còn cho thấy có những nguyên nhân chủ quan gây ra nợ đọng thuế gia tăng không nằm ở chuyện có đủ nhân lực cho ngành thuế hay không. Nói cách khác, tăng thêm bộ máy cho ngành thuế mà vẫn nguyên cách làm chậm chễ, nửa vời, không “quyết liệt” như cũ thì nợ đọng thuế vẫn là vấn đề kinh niên, ngày càng khó giải quyết.



(1)   http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thue-voi-cuoc-song/2015-03-17/cham-nop-thue-qua-90-ngay-se-bi-cuong-che-thue-18863.aspx

(2)   https://tuoitre.vn/ha-noi-moi-nguoi-no-thue-len-dong-vien-20180320093048067.htm

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).