Monday, 20 August 2018

Dự thảo Luật quản lý thuế: Nhiều nhiệm vụ giao nhầm đối tượng (Bài đăng trên TBKTSG, 20/8/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/td/277106/du-thao-luat-quan-ly-thue-nhieu-nhiem-vu-giao-nham-doi-tuong-.html


Bộ Tài chính đã xây dựng và đang đưa ra lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Luật quản lý thuế (sửa đổi) để chuẩn bị trình Chính phủ. Bài viết này chọn và nêu một số điểm chưa hợp lý trong dự thảo liên quan đến nhiệm vụ được giao cho một số đối tượng phi nhà nước, cần được xem xét, sửa đổi để phù hợp hơn.

Thứ nhất, điều 25 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong việc quản lý thuế. Theo đó, các tổ chức này phổi hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế, cung cấp thông tin liên quan đến việc quản lý thuế.

Mặc dù điều khoản trên không nói rõ là các tổ chức này phải thực hiện những nội dung tuyên truyền và cung cấp thông tin trên nhưng vì điều khoản này đề cập đến nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức này nên có thể hiểu rằng họ có nhiệm vụ tuyên truyền và cung cấp thông tin về thuế. Quy định như thế này là không thỏa đáng, ít nhất với những tổ chức tự chủ về kinh phí, không nhận kinh phí hoạt động từ ngân sách. Nói cách khác, nếu có tổ chức nào đó phải thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền này thì cùng lắm chỉ là những tổ chức do nhà nước lập ra, thụ hưởng ngân sách nên phải thực hiện những công việc, nhiệm vụ mà nhà nước giao mà thôi.

Có phần tương đồng như vậy là điều 26 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thông tin, báo chí trong việc quản lý thuế. Mặc dù hiện nay chưa có cơ quan thông tin, báo chí tư nhân nhưng, ngược lại, cũng không hoàn toàn chỉ có báo chí nhà nước, “sống nhờ” (hoàn toàn) vào ngân sách. Do có cả mục đích kinh doanh, theo đuổi lợi nhuận, nên báo chí không có nghĩa vụ, nhiệm vụ phải đăng cái gì đó không đem lại hiệu quả kinh tế cho họ. Như vậy, trừ khi cơ quan thuế ký hợp đồng hợp tác tuyên truyền (và trả phí), nhiều tờ báo có quyền từ chối tuyên truyền, cung cấp thông tin về quản lý thuế, nếu muốn. Nên quy định như điều 26 là sự trói buộc bất hợp lý, trái luật với cơ quan thông tin, báo chí nói chung.

Điều 27 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của ngân hàng thương mại (NHTM) trong quản lý thuế có tiến bộ hơn điều khoản 25 và 26 ở góc độ là nó chỉ rõ phạm vi đối tượng thực thi điều khoản này – các NHTM “khi tham gia phối hợp” (với cơ quan thuế). Điều này cũng có nghĩa là các ngân hàng khác không thuộc đối tượng này ((khi) không phối hợp với cơ quan thuế) thì không phải thực hiện những nội dung trong điều khoản này. Nhưng như vậy thì dự thảo phải có thêm quy định NHTM như thế nào thì sẽ được/phải “phối hợp” với cơ quan thuế trong việc quản lý thuế, và nếu “phối hợp” như vậy thì sẽ được lợi ích cụ thể gì để “trả công” cho sự “phối hợp” này. Bởi, xin lưu ý, NHTM không phải là cánh tay nối dài của cơ quan thuế, không thụ hưởng ngân sách, nên không có nghĩa vụ phải phối hợp với cơ quan thuế làm nhiều việc về quản lý thuế.

Mặt khác, điều 27 đề ra khá nhiều công việc cho NHTM mà thực chất là những công việc, là nhiệm vụ của mạng lưới Kho bạc, của cơ quan thuế. Tuy, như trên đã nói, NHTM có thể được trả công cho sự thực hiện những công việc của Kho bạc, của cơ quan thuế, nhưng câu hỏi nảy sinh là vậy thì hệ thống Kho bạc, hệ thống của cơ quan thuế tồn tại để làm gì, ngân sách trả tiền cho họ để làm gì, tại sao cơ quan thuế không làm những công việc hiển nhiên thuộc trách nhiệm của mình, ví dụ hỗ trợ người nộp thuế điện tử, mà lại muốn giao cho NHTM? Nếu vì lý do là cơ quan thuế, Kho bạc bị quá tải, không đảm đương hết được những công việc này nên phải thuê NHTM giúp thêm thì điều này là thuộc phạm trù khác, không được phép đưa vào luật.

Trên hết, nên nhớ rằng NHTM chỉ là trung gian thực hiện các giao dịch, nếu có, giữa người nộp thuế và cơ quan thuế (chẳng hạn như thực hiện lệnh chuyển tiền (để nộp thuế) của chủ tài khoản đến một tài khoản chỉ định bởi cơ quan thuế), chứ chúng không thể, không có tư cách pháp lý đại diện cho cơ quan thuế để làm những công việc của cơ quan thuế.

Sẽ càng là phi lý nếu NHTM (phải tự động) “khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp theo quy định pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử có phát sinh thu nhập từ Việt Nam theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Bởi, rõ ràng là trách nhiệm và thẩm quyền tính thuế, bắt nộp thuế là của cơ quan thuế (và cơ quan chức năng liên quan) chứ không phải là của NHTM. Cùng lắm thì chỉ có thể quy định khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan chức năng (cơ quan thuế, hoặc tòa án…), NHTM phải (và được quyền) thực hiện việc này (trong từng trường hợp cụ thể).
Việc yêu cầu NHTM định kỳ cung cấp thông tin tài khoản của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế cũng là một điều bất hợp lý. Vì ít nhất thì nó cũng là một gánh nặng cho NHTM khi phải định kỳ cung cấp số liệu có trong hàng triệu tài khoản của cá nhân, tổ chức. Nếu muốn theo dõi các giao dịch bất thường thì đã có quy định riêng cho NHTM phải báo cáo các giao dịch loại này cho cơ quan chức năng. Tất nhiên, cùng lắm thì có thể quy định NHTM phải cung cấp thông tin của những tài khoản thuộc diện nghi ngờ, bị theo dõi bởi cơ quan chức năng, chứ không phải của các tài khoản khác.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).