Tuesday, 11 September 2018

Cải cách chính sách tiền lương khu vực công: cần gắn với thị trường (Bài đăng trên TBKTSG, 12/9/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/278094/cai-cach-chinh-sach-tien-luong-khu-vuc-cong-can-gan-voi-thi-truong.html

Chính phủ mới đây đã ban hành Nghị quyết 107/NQ-CP và kèm theo đó là Chương trình hành động của Chính phủ về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp. Cuộc cải cách này có một số vấn đề cần được xem xét thận trọng trước khi được thực thi.


Vì sao đặt mục tiêu tiền lương thấp nhất ở khu vực công cao hơn tiền lương thấp nhất ở khu vực tư?
Chương trình cải cách chính sách tiền lương đặt các mục tiêu cụ thể cần thực hiện từ nay đến năm 2030, qua ba giai đoạn, gồm đến năm 2021, 2025 và 2030. Cụ thể, đến năm 2021, mục tiêu của chính sách tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi tắt là cán bộ) là tiền lương thấp nhất của cán bộ “bằng mức lương thấp nhất bình quân các vùng” của khu vực doanh nghiệp.
Tuy nhiên, sang giai đoạn thứ hai - đến năm 2025, mục tiêu tiền lương thấp nhất của cán bộ được nâng lên thành “cao hơn mức lương thấp nhất bình quân các vùng” của khu vực doanh nghiệp.
Sang đến giai đoạn thứ ba - đến năm 2030, mục tiêu này leo thêm lên một nấc mới là: “bằng hoặc cao hơn mức lương thấp nhất của vùng cao nhất” của khu vực doanh nghiệp.
Như vậy, nhìn chung Chính phủ muốn thông qua cải cách chính sách tiền lương để đảm bảo tiền lương thấp nhất của cán bộ phải cao hơn mức tương ứng ở khu vực doanh nghiệp. Cơ sở nào để đặt ra mục tiêu này?
Nếu căn cứ vào nguyên tắc thị trường là tiền lương được trả theo năng lực và trách nhiệm thì phải chăng Chính phủ cho rằng năng lực và trách nhiệm của cán bộ khu vực công là lớn hơn của khu vực doanh nghiệp, ít nhất là đối với những công việc có mức lương thấp nhất? Nếu vậy thì đâu có cơ sở nào để kết luận rằng cán bộ làm công việc có mức lương thấp nhất, ví dụ như nhân viên tạp vụ/văn phòng, lại có năng lực và trách nhiệm cao hơn một nhân viên tương tự trong khu vực doanh nghiệp?
Nếu không căn cứ vào nguyên tắc trả lương mang tính thị trường như trên thì việc cho rằng cán bộ - với tư cách là “người nhà nước” - nên xứng đáng được hưởng lương cao hơn khu vực phi nhà nước, ít nhất là đối với những vị trí công việc có mức lương thấp nhất cũng không hợp lý, vì... chẳng có nguyên tắc nào cho phép nghĩ hay làm như vậy.
Thiếu vắng nguyên tắc xây dựng mức tiền lương một cách khách quan
Ví dụ, Bộ Nội vụ thì được giao nhiệm vụ “chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính căn cứ Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 9-11-2016 và các nghị quyết dự toán ngân sách nhà nước hàng năm của Quốc hội trình Chính phủ điều chỉnh mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang năm 2019 và năm 2020”. Như vậy, ở tầm bao quát, cả nước, dự toán ngân sách (cho chi thường xuyên) sẽ là căn cứ chủ yếu để quyết định quỹ tiền lương cho lực lượng cán bộ cả nước. Dự toán nhiều thì mức lương/thu nhập trung bình và/hoặc số biên chế thụ hưởng lương sẽ tăng và ngược lại. Nên có thể nói không quá rằng chính sách tiền lương cho cán bộ phụ thuộc một phần vào khả năng thương lượng của Chính phủ với Quốc hội!

Ngoài bất hợp lý trong việc xác định lương thấp nhất cho cán bộ, mục tiêu cải cách tiền lương cho cán bộ nêu trên còn một khiếm khuyết rất lớn là không đề ra nguyên tắc khách quan, hợp lý để xây dựng các mức tiền lương khác, cao hơn mức thấp nhất, cho cán bộ. Chương trình hành động của Chính phủ về cải cách chính sách tiền lương chỉ có những nguyên tắc chung chung, tùy thuộc vào dự toán ngân sách hàng năm của Quốc hội, và/hoặc tùy thuộc hoàn toàn vào sự đề xuất chủ quan của các cơ quan thụ hưởng ngân sách, mà thiếu vắng một chuẩn mực khách quan dựa vào đó mức tiền lương được xây dựng phù hợp với năng lực và trách nhiệm đòi hỏi cho từng vị trí công việc.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ liên đới là: “Đề xuất và phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng bảng lương theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo và phụ cấp ưu đãi theo nghề (nếu có) đối với viên chức chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập...”.
Tương tự như vậy là nhiệm vụ của các bộ, ngành và địa phương khác. Như thế, phối hợp với chuyện quỹ lương cả nước được quyết định bởi khả năng Chính phủ xin dự toán ngân sách từ Quốc hội, rõ ràng là mức tiền lương được đưa ra hoàn toàn mang tính chủ quan (dù là được sự đồng ý, phê chuẩn của các bên hữu trách) mà cách ly hoàn toàn với thị trường, với tình hình kinh tế nói chung và trong ngành quản lý của mỗi bộ nói riêng.
Xin lưu ý rằng trong Chương trình hành động của Chính phủ về cải cách chính sách tiền lương, chỉ có duy nhất một nội dung về tiền lương được gắn với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, khả năng chi. Đó là phần đề cập mục tiêu cụ thể đến năm 2021, nhưng đáng tiếc lại chỉ liên quan đến việc điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng, và cũng chỉ trong một giai đoạn nhất định, cụ thể: “Thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng phù hợp tình hình phát triển kinh tế - xã hội, khả năng chi trả của doanh nghiệp để đến năm 2020 mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ”.
Thang, bảng lương cần mang tính thị trường
Những phân tích trên cho thấy cuộc cải cách chính sách tiền lương lần này sẽ vẫn không làm cho mức lương của khu vực công cạnh tranh đúng đắn với khu vực tư (hoặc cao hơn, hoặc thấp hơn; nếu cao hơn thì là vô nguyên tắc, như nói ở trên; còn nếu thấp hơn thì sẽ không có được cán bộ giỏi). Đồng thời, tiền lương theo cuộc cải cách này cũng không phản ánh đúng cái “giá” của lao động khu vực công vì không gắn chặt chẽ tiền lương với tình hình và điều kiện kinh tế chung của cả nước. Nên sẽ có tình huống là, ví dụ, nền kinh tế xuống dốc hoặc ì ạch trong khi tiền lương cán bộ vẫn cứ được duy trì hoặc tăng lên như không hề có chuyện gì xảy ra.
Vì vậy, hướng đi cần có của cải cách tiền lương khu vực công là gắn tiền lương với thị trường, dùng các yếu tố thị trường để đặt ra thang lương, bảng lương. Theo đó, tiền lương cho mỗi một vị trí công việc trong khu vực công sẽ phải được so sánh với vị trí tương đương trong khu vực tư (về nguyên tắc, vị trí nào thì cũng đều có đối trọng tương đương có thể so sánh được) trong một biên độ biến động nhất định tùy thuộc vào trình độ, năng lực và kinh nghiệm của mỗi người lao động.
Nguyên tắc gắn với thị trường này không phải mới lạ gì, mà đã được thực hiện đây đó trên thế giới, điển hình là tại Singapore, nơi mức lương khu vực công được xây dựng dựa trên nguyên tắc tương đương với khu vực tư. Như thế, khi nền kinh tế tăng trưởng tốt thì tiền lương khu vực tư cũng tốt lên, kéo theo tiền lương khu vực công, và ngược lại. Nguyên tắc này cũng làm cho mỗi cán bộ, mỗi bộ, ngành, địa phương, và cả Chính phủ lẫn Quốc hội có trách nhiệm hơn với mức lương, quỹ lương khu vực công.
Một số bất hợp lý khác
Chương trình hành động của Chính phủ về cải cách chính sách tiền lương còn có một số bất hợp lý khác. Ví dụ, về nguyên tắc: “Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp”, điều này liệu có đúng, có được áp dụng với doanh nghiệp nhà nước?
Trong khi đó, có một nguyên tắc khác liên quan đến doanh nghiệp nhà nước là: “Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Điều này vừa mâu thuẫn với nguyên tắc Nhà nước không can thiệp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp nêu trên, vừa bất hợp lý khi chỉ gắn tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước với nhiệm vụ mà không phải là (kèm với) hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ đó. Tương tự như vậy là nguyên tắc: “Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức khoán nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).