Wednesday, 10 October 2018

Nguy cơ đối mặt với cuộc khủng hoảng nợ (Bài đăng trên TBKTSG, 11/10/2018, bản gốc)

https://www.thesaigontimes.vn/279894/nguy-co-doi-mat-voi-cuoc-khung-hoang-no-.html


Kể từ lúc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung có dấu hiệu sẽ nổ ra, chứng khoán của các thị trường mới nổi đã tụt giảm mạnh, không chỉ ở Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc, là hai nước mục tiêu của cuộc chiến thương mại và ngoại giao của chính quyền Trump. Thị trường của các nước mới nổi và đang phát triển khác như Argentina, Indonesia, Ấn Độ và cả Việt Nam cũng chịu chung tình cảnh.

Tuy được không ít người cho rằng Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, nhưng thực tế khi cuộc chiến này nổ ra VnIndex đã có thời điểm mất tới 26% giá trị so với đỉnh điểm 1.204 đạt được vào ngày 9/4 năm nay (xem hình). Tuy đã có sự phục hồi nhưng VnIndex hiện vẫn còn thấp hơn đỉnh điểm này tới 15%.





Chiến tranh thương mại ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán là điều đáng lo ngại. Nhưng, điều đáng lo ngại không kém là gánh nặng nước ngoài ở các thị trường mới nổi có thể gây ra những cuộc khủng hoảng nợ nghiêm trọng trong bối cảnh có chiến tranh thương mại. Những cuộc khủng hoảng nợ trước đây thường gây ra hậu quả lớn hơn nhiều so với khủng hoảng chứng khoán.

Nợ doanh nghiệp của ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển hiện đã vượt xa mức trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Rủi ro đi kèm với thực tế này là nợ doanh nghiệp cao sẽ đe dọa ổn định tài chính và làm suy yếu nghiêm trọng bảng cân đối tài sản của các ngân hàng. Những rủi ro này hiển hiện rõ ở Đông Á, nơi có tăng trưởng kinh tế cao nhưng thường dựa trên mức vay nợ cao.

Hành động của chính quyền Trump càng tạo thêm điều kiện để cuộc khủng hoảng nợ xảy ra nhanh hơn, nguy hiểm hơn. Chiến tranh thương mại (và ngoại giao) làm các nhà đầu tư phải rút vốn khỏi thị trường chứng khoán của các nước mới nổi, làm cho các doanh nghiệp vốn không tiếp cận được tín dụng ngân hàng nên phải huy động vốn từ thị trường chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng. Họ không thể huy động vốn mới để đáo hạn nợ cũ nữa. Đến lượt mình, các doanh nghiệp này lại làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp liên đới, là khách hàng vay tín dụng từ hệ thống ngân hàng, nên sẽ kéo theo nạn nhân mới là các ngân hàng khi khách vay không trả được nợ. Theo đó là một cuộc khủng hoảng nợ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Nguy cơ của một cuộc khủng hoảng nợ kèm với việc Mỹ đánh thuế cao lên hàng nhập khẩu vào Mỹ (và ngược lại, các nước khác như Trung Quốc có biện pháp tương tự trả đũa đối với Mỹ) và triển vọng thương mại toàn cầu chậm lại sẽ làm suy giảm mạnh lòng tin và tạo tâm lý bi quan trong giới đầu tư toàn cầu. Cuộc khủng hoảng nợ tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển vì thế sẽ lan rộng ra cả những nền kinh tế phát triển.

So với những nền kinh tế tăng trưởng nhanh và có mức nợ doanh nghiệp cao ở châu Á được cho là dễ bị tổn thương bởi cuộc khủng hoảng nợ, Việt Nam không phải là ngoại lệ. Mức nợ nước ngoài của doanh nghiệp trên GDP ở Trung Quốc là 6,3%, Hàn Quốc là 15,1%, Malaysia là 11,7%, Thái Lan là 9,5%, Indonesia là 9,1% và Ấn Độ là 7,7%.

Ở Việt Nam, chỉ riêng nợ ngắn hạn nước ngoài của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng theo hình thức tự vay tự trả tính đến cuối năm 2017 đã là 21,9 tỷ USD (1). Với GDP khoảng 220 tỷ USD thì nợ này tương đương khoảng 10% GDP của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu tính thêm cả nợ vay dài hạn của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng, cũng như nợ có bảo lãnh của Chính phủ và nợ của Chính phủ đi vay về cho vay lại thì chắc chắn con số này phải lớn hơn nhiều, và nhìn chung sẽ cao hơn so với các nước khác trong khu vực.

Vấn đề trở nên trầm trọng hơn khi trong cùng thời kỳ này các nước phát triển lại bắt đầu bình thường hóa chính sách tiền tệ của mình, nâng dần lãi suất để giảm áp lực lạm phát trên lãnh thổ của họ. Điều này góp phần làm “khô hạn” thanh khoản ở các nước mới nổi, đang phát triển, gây khó cho việc huy động vốn của doanh nghiệp nơi này, càng làm tăng rủi ro vỡ nợ, phá sản của chúng.

Rủi ro của một cuộc khủng hoảng nợ mới là kết quả tổng hợp của cuộc chiến thương mại đang ngày càng diễn ra kịch tính hơn, nợ doanh nghiệp tăng cao ở các nền kinh tế mới nổi, và sự thắt chặt tiền tệ ở các nước đang phát triển với Việt Nam có thể đã bộc lộ ở sự căng thẳng về tỷ giá tiền đồng/USD và áp lực tăng lên của lãi suất tiền đồng.

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng nợ quốc tế đang rình rập, điều mà Việt Nam có thể làm được để hạn chế phần nào hậu quả là phải nhanh chóng giảm thiểu vay nợ nước ngoài của không chỉ doanh nghiệp mà còn của Chính phủ để giảm gánh nặng phải can thiệp bảo vệ tỷ giá lên NHNN cũng như bảo vệ quỹ dự trữ ngoại hối, vốn chỉ nên được dùng cho những lúc nguy cấp, ví dụ khi có chảy máu ngoại tệ ồ ạt.

Liên quan đến giảm thiểu vay nợ nước ngoài, nếu cần thiết thì phải hoãn vô thời hạn một số dự án phát triển quy mô lớn sử dụng vốn vay nước ngoài (cả ưu đãi lẫn thương mại) cho đến khi tình hình bất lợi bên ngoài trở nên đỡ rủi ro hơn. Phương châm chính sách trong giai đoạn rối ren này phải là phòng bị, giảm rủi ro, chứ không phải là mở rộng, phát triển để gánh thêm rủi ro.

Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư thân thiện hơn với nhà đầu tư để tiếp tục hấp dẫn và giữ chân dòng vốn đầu tư không chỉ trực tiếp mà còn cả gián tiếp. Về khía cạnh này, cần xử lý đúng mức để quan điểm “xét lại” về vốn FDI đang trở nên phổ biến hiện nay không làm ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam. Bởi, suy cho cùng, các yếu tố chủ quan mới là nguyên nhân của những tiêu cực mà dòng vốn FDI gây ra, nếu có, cho nền kinh tế bản địa, chứ đó không phải là đặc tính của FDI. 

(1) http://vneconomy.vn/du-no-vay-ngan-han-nuoc-ngoai-cua-doanh-nghiep-to-chuc-tin-dung-tang-dot-bien-20180527171033991.htm

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).