Thursday, 18 October 2018

Thực hư cuộc đua lãi suất tiền gửi của các 'ông lớn' ngân hàng (Bài đăng trên Zing, 19/10/2018)

https://news.zing.vn/thuc-hu-cuoc-dua-lai-suat-tien-gui-cua-cac-ong-lon-ngan-hang-post885600.html


4 ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) có vốn nhà nước gần đây đã điều chỉnh tăng khá mạnh lãi suất huy động áp dụng cho nhiều kỳ hạn. Điển hình là Agribank đã điều chỉnh tăng tất cả lãi suất tiền gửi tiết kiệm ở nhiều kỳ hạn với mức tăng khoảng 0,2 đến 0,3 điểm phần trăm. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 1 tháng của ngân hàng này tăng từ mức 4,3%/năm lên 4,5%/năm; kỳ hạn 2 tháng tăng từ 4,2%/năm lên 4,5%/năm, kỳ hạn 3 tháng tăng từ 4,6%/năm lên 4,8%/năm; kỳ hạn 6 tháng tăng từ 5,3% lên 5,5%/năm.

Tương tự, Vietcombank vốn khá “bảo thủ” với lãi suất, cũng đã phải tham gia cuộc chơi, điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn dưới 3 tháng thêm 0,1 điểm phần trăm lên 4,4%/năm. Kỳ hạn 3 và 6 tháng tăng 0,2 điểm phần trăm lên 4,8%/năm và 5,5%/năm.

Trước đó, VietinBank và BIDV đã sớm tăng lãi suất tiết kiệm tại nhiều kỳ hạn. Kết quả là lãi suất của 4 ngân hàng TMCP có vốn nhà nước thậm chí còn cao hơn một số ngân hàng khác ở nhiều kỳ hạn ngắn. Cụ thể, ở kỳ hạn 1 đến 6 tháng, lãi suất của Vietcombank, Agribank, BIDV và VietinBank ở mức từ 4,5%-5,5%/năm, cao hơn đáng kể so với LienVietPostBank khi chỉ ở mức 4,1%-5,1%/năm.

Với những kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, lãi suất của những “ông lớn” ngân hàng này (trừ Vietcombank) cũng đều tiệm cận hoặc thậm chí là nhỉnh hơn của một số ngân hàng TMCP tư nhân như LienVietPostBank, Techcombank, MBBank, TP Bank và Eximbank (xem bảng).

Điều này làm cho nhiều người nhìn nhận rằng sự biến động tăng lên của lãi suất huy động ở các ngân hàng TMCP có vốn nhà nước, với vai trò “kim chỉ nam” cho các ngân hàng nhỏ, đã và sẽ tiếp tục đẩy mặt bằng lãi suất huy động lên cao.

Tuy nhiên, thực tế không hẳn là vậy. Trước tiên, cần lưu ý rằng 4 ngân hàng TMCP có vốn nhà nước mới chỉ điều chỉnh (đáng kể) lãi suất tiền gửi gần đây, sau khi nhiều ngân hàng TMCP tư nhân đã tăng mạnh lãi suất từ trước đó vài tháng. Nói cách khác, sự điều chỉnh tăng lên về lãi suất huy động của các ngân hàng TMCP có vốn nhà nước, đặc biệt ở kỳ hạn ngắn, chỉ là sự chạy theo xu hướng, chứ không phải dẫn đầu, định hướng cho các ngân hàng TMCP tư nhân khác.

Thêm nữa, biểu lãi suất tiền gửi hiện tại của LienVietPostBank đã được áp dụng từ 8/8/2018, tức là đã cách đây hơn 2 tháng khi nhiều ngân hàng khác chưa điều chỉnh lãi suất. Điều này chứng tỏ lãi suất của ngân hàng này không phải là kém cạnh tranh so với các ngân hàng khác tại thời điểm áp dụng. Điều đáng nói là dư địa tăng trưởng tín dụng của LienVietPostBank năm 2018 đã không còn nhiều. Trong nửa đầu năm 2018, tăng trưởng tín dụng của LienVietPostBank đã đạt tới 13,3% so với cuối năm 2017, trong khi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được phép tối đa bị khống chế ở mức 14% cho cả năm nay (25% trong năm 2017). Như vậy, rõ ràng là ngân hàng này không có nhiều áp lực phải chạy đua tăng lãi suất huy động để có thêm vốn đẩy mạnh cho vay nữa.

Với Eximbank, dù có chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2018 là 12%, khá thấp hơn so với mặt bằng chung, nhưng 6 tháng đầu năm Eximbank tăng trưởng tín dụng âm 0,5%. Điều này chứng tỏ ngân hàng này có những khó khăn nhất định trong, hoặc có chiến lược không chú trọng vào việc đẩy mạnh cho vay. Nói cách khác, họ không có động cơ chạy đua nâng lãi suất để huy động thêm được nhiều vốn nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay.

Tương tự, Techcombank có chiến lược chuyển từ cho vay trung-dài hạn sang cho vay ngắn hạn nên rõ ràng là nhu cầu huy động vốn trung-dài hạn sẽ phải giảm đi tương ứng, theo đó, lãi suất huy động trung-dài hạn của ngân hàng này đã và sẽ ở mức tương đối thấp so với các đối thủ. Thêm nữa, ngân hàng cũng tập trung vào xây dựng các mối quan hệ hợp tác liên kết để đa dạng hóa nguồn thu. Nhờ thế, ngân hàng đạt được tỉ lệ thu nhập ngoài lãi chiếm đến 41.7% tổng thu nhập trong nửa đầu năm 2018. Đây cũng là lý do Techcombank không có áp lực lớn trong việc cạnh tranh lãi suất huy động.

Một ngân hàng khác có lãi suất huy động tương đối thấp là MBBank. Lý do có thể bắt nguồn từ dư địa tăng trưởng tín dụng cũng không còn “xông xênh” trong năm nay khi tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm đã đạt 11% trong khi hạn mức tăng trưởng cả năm là 15%. Hơn nữa, ngân hàng này có lợi thế lớn là luôn có nguồn vốn huy động có chi phí thấp. Ngoài ra, ngân hàng này từ giữa năm 2017 có một lượng vốn lớn đang phân bổ ở thị trường 2 có hiệu quả không cao, nên đã chuyển sang cho vay khách hàng trong năm nay. Những yếu tố này kết hợp với nhau làm cho MBBank không phải tích cực tham gia cuộc đua lãi suất như với các ngân hàng khác.

Cuối cùng là TP Bank, ngân hàng này đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm tới 14,5%. Trong khi đó, hạn mức tín dụng của ngân hàng chỉ là 15%. Điều này buộc ngân hàng phải giảm thiểu các hoạt động cho vay. Vì vậy, áp lực chạy đua nâng lãi suất huy động của ngân hàng này cũng được giảm bớt đi.

Tóm lại, từ những phân tích ở trên có thể thấy rằng lãi suất tiền gửi của các ngân hàng TMCP có vốn nhà nước vẫn đang thuộc nhóm thấp nhất trên thị trường, trừ những ngân hàng mà vì một vài lý do cụ thể cũng đang có lãi suất huy động khá thấp. Và do các ngân hàng TMCP có vốn nhà nước cũng chỉ mới gia tăng sau khi nhiều ngân hàng TMCP tư nhân đã tăng mạnh lãi suất nên không thể kết luận được rằng các ngân hàng TMCP có vốn nhà nước đang dẫn dắt thị trường và sẽ tiếp tục đẩy lãi suất lên cao trong thời gian tới. Nói cách khác, lãi suất nếu có tăng trong thời gian tới vẫn sẽ tiếp tục được dẫn đầu bởi các ngân hàng TMCP tư nhân, đặc biệt là những ngân hàng nhỏ, yếu.
Thuc hu cuoc dua lai suat tien gui cua cac 'ong lon' ngan hang hinh anh 1

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).