Wednesday, 2 January 2019

Để các mô hình mới thành công (Bài đăng trên TBKTSG, 2/1/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/283405/de-cac-mo-hinh-moi-thanh-cong-.html


Tiến bộ ông nghệ đã làm nảy sinh nhiều mô hình kinh doanh mới dựa trên các nền tảng chia sẻ như gọi xe công nghệ, Airbnb, cho vay ngang hàng, chia sẻ nhân lực, chia sẻ nơi tập gym… Tuy nhiên, không phải mô hình kinh doanh chia sẻ nào cũng gọi vốn thành công, tăng trưởng nhanh và bền vững. Nên câu hỏi đặt ra là để các mô hình kinh doanh này thành công thì cần những yếu tố nào?

Luật lệ

Một trong những thách thức lớn nhất với kinh tế chia sẻ ở các nước trên thế giới chính là các luật lệ và quy chế của Chính phủ, hoặc sẽ cản trở hoặc sẽ cấm cửa các mô hình kinh doanh mới dựa trên kinh tế chia sẻ này. Tất cả các quy chế và luật lệ hiện hành được thiết kế để nhắm đến các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ chuyên nghiệp. Chúng không được thiết kế để đón đầu xu hướng mà theo đó vào một ngày nào đó người tiêu dùng lại trở thành nhà cung cấp trong thời gian rỗi của họ. Đáng nói hơn, luật lệ và quy chế đối với các mô hình kinh tế mới này, nếu có, hiếm khi ở cấp độ quốc gia mà thường chỉ ở cấp độ tỉnh, thành phố, và bang nên có thể sẽ gây tốn kém về chi phí và thời gian cho các starup nếu muốn thành công và lớn mạnh đạt đến quy mô lớn.

Các startup cũng hiếm khi phớt lờ được yếu tố luật lệ và quy chế của Chính phủ mà thường phải phối hợp chặt chẽ với Chính phủ để đạt được cái đích mà các bên – người tiêu dùng, nhà cung cấp và cơ quan quản lý – đều là người thắng cuộc.

Luật cần được thay đổi để theo kịp với đà tiến của công nghệ mới, như đã được chính quyền bang California thực hiện với các startup gọi xe công nghệ. Ngược lại, các doanh nghiệp cũng đã phải chủ động tích cực tiếp cận các cơ quan chức năng để giảm thiểu số vụ phải đóng cửa và đình chỉ hoạt động xảy ra với ngành này ở khắp nước Mỹ và lan ra các ngành khác như ví dụ của cuộc chiến giữa Airbnb với chính quyền thành phố New York trước đây.

Gọi vốn

Một trong những nhầm lẫn phổ biến là kinh tế chia sẻ đòi hỏi rất ít vốn mà chỉ cần công nghệ viết code và thiết kế nền tảng giao dịch tốt. Thực tế, Airbnb, Lyft và Uber đã phải huy động hàng trăm triệu đô la tiền vốn cổ đông và nợ. Tại sao vậy?

Các mô hình kinh doanh mới cần nhiều vốn bởi, thứ nhất, giai đoạn đầu mới thành lập chúng cần phải có “nguồn cung” dồi dào. Rất thường xuyên xảy ra là các nền tảng giao dịch phải trợ giá cho những nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất để giúp họ bỏ qua không nuối tiếc những cơ hội kinh doanh hiện thời (khi không tham gia vào kinh tế chia sẻ) và giải quyết được vấn đề “con gà hay quả trứng”. Ban đầu, Lyft hay Uber đã phải trả cho nhà cung cấp một mức “giá sàn” đủ hấp dẫn để giữ chân họ những khi nhu cầu khách hàng không thể dự đoán được.

Thứ hai, có những lĩnh vực kinh doanh chỉ giới hạn trong một phạm vi địa lý nhất định nên dù việc kinh doanh đã phát triển tốt ở khu vực, thành phố hiện tại nhưng khi doanh nghiệp muốn mở rộng việc kinh doanh sang một thành phố khác thì họ gần như phải xây dựng mọi thứ từ đầu, và tất nhiên là cần một lượng vốn lớn để triển khai công việc như đã xảy ra ở thành phố hiện tại.

Thứ ba, hầu như với mọi startup luôn có một cuộc chiến tranh giành những nhân sự giỏi nhất không chỉ trong lĩnh vực công nghệ mà còn ở các lĩnh vực marketing, logistics, chuyên gia thị trường và pháp lý… Xây dựng một ứng dụng có thể rẻ nhưng tuyển dụng nhân sự giỏi để đảm bảo chất lượng dịch vụ hàng đầu luôn được duy trì tại mọi nơi mà starup có hoạt động lại là câu chuyện hoàn toàn khác.

Tuyển chọn

Sẽ là rất tốt nếu startup trong lĩnh vực kinh tế chia sẻ có được ứng dụng được thiết kế đẹp để sử dụng cho nền tảng kinh tế chia sẻ. Nhưng điều này không đảm bảo được sự thành công của startup này. Điều quan trọng là các kết nối của con người và cộng đồng. Công nghệ chỉ giúp cho người mua và người bán dịch vụ gặp được nhau chứ không quyết định được việc người mua có quay lại  tiếp tục mua dịch vụ chia sẻ nữa hay không. Người mua dịch vụ sẽ nhớ về trải nghiệm offline của mình với dịch vụ được cung cấp nhiều hơn rất nhiều so với việc họ nhớ về các nút bấm trên điện thoại hay máy tính để mua dịch vụ chia sẻ.

Mức độ rủi ro về chất lượng và an toàn trong kinh tế chia sẻ thường là cao bởi nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong kinh tế chia sẻ không phải là nhà cung cấp chuyên nghiệp và dài hạn. Điều này đòi hỏi trải nghiệm offline của người mua phải được lựa chọn và biên tập kỹ càng để làm hài lòng khách hàng, tạo cảm giác an toàn và nhất quán, đặc biệt trong giai đoạn ban đầu khi phương thức truyền miệng đóng vai trò quan trọng.

Trước khi đến thời điểm mà văn hóa và thương hiệu của dịch vụ đã được khẳng định và nhận được nhiều đánh giá tốt thì cần phải tuyển chọn và theo dõi kỹ từng nhà cung cấp. Thường thì các nền tảng kinh tế chia sẻ có xu hướng mở rộng cửa đón nhận và cho phép mọi nhà cung cấp được cung cấp dịch vụ của mình đến người tiêu dùng. Nhưng cách làm thiếu thận trọng này sẽ gây ra sự không đồng nhất về trải nghiệm khách hàng, có khả năng tạo ra các cuộc khủng hoảng cho doanh nghiệp khi những trải nghiệm xấu lan rộng chóng mặt trên mạng qua phương thức truyền miệng.
Lyft đã tập trung nguyên tắc tuyển chọn trên vào chất lượng trải nghiệm khách hàng. Khi Lyft đánh giá một lái xe tiềm năng, họ tự hỏi mình – liệu mình có thuê người này đứng ở quầy lễ tân trong một khách sạn sang trọng không?

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).