Monday, 11 March 2019

Quy định về đại diện chủ sở hữu nhà nước: Chưa đảm bảo tinh gọn, hiệu quả (Bài đăng trên TBKTSG, 12/3/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/285967/quy-dinh-ve-dai-dien-chu-so-huu-nha-nuoc-chua-dam-bao-tinh-gon-hieu-qua-.html

Chính phủ mới đây đã ban hành Nghị định 10/2019 quy định về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước. Nghị định này thay thế cho Nghị định 99/2012 về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Tuy vậy, Nghị định 10 vẫn còn nhiều điểm bất hợp lý, đặc biệt là chưa đảm bảo tinh thần tinh gọn, hiệu quả trong việc tái cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước đang diễn ra.

Chồng chéo giữa SCIC và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Nghị định 10 quy định cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước gồm Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (UBQLVNN), các bộ và cơ quan ngang bộ đại diện đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
Trong khi đó, theo giải trình của Chính phủ trước Quốc hội về mối quan hệ giữa UBQLVNN và SCIC, Chính phủ cho biết UBQLVNN là đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại SCIC. Nói cách khác, Bộ Tài chính phải bàn giao SCIC về UBQLVNN với tư cách đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước mới tại SCIC. Tuy vậy, SCIC vẫn là doanh nghiệp do đó vẫn hoạt động theo quy định của Chính phủ gồm tiếp tục tiếp nhận quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) còn lại (không thuộc danh mục tiếp nhận của UBQLVNN) và các công ty cổ phần từ cổ phần hóa DNNN.
Như vậy, điểm chồng chéo ở đây là có đến hai tổ chức cùng thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, dù quy mô, đối tượng và phạm vi quản lý có khác nhau. Theo hướng tinh gọn bộ máy nhà nước thì cần tiến tới thống nhất chỉ còn một cơ quan như vậy (là UBQLVNN) và mọi doanh nghiệp cần chuyển giao về SCIC theo quy định hiện hành cần được chuyển về một mối là UBQLVNN như đúng mục đích thành lập ra UBQLVNN, chứ không nên có sự phân tách doanh nghiệp nào thì chuyển về UBQLVNN còn các doanh nghiệp còn lại thì chuyển về SCIC.
Thừa... một bộ?
Điều 5 Nghị định 10 quy định quyền, trách nhiệm của các cơ quan liên đới. Với Bộ Tài chính, họ có một số nhiệm vụ, bao gồm quy định về chuyển doanh nghiệp do Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần; quy định việc quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; quy định tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động, hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; quy định việc giám sát, kiểm tra hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Trong khi đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao một số nhiệm vụ bao gồm quy định việc công khai thông tin về hoạt động của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; quy định về quy chế hoạt động của kiểm soát viên tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; quy định về thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, bán toàn bộ doanh nghiệp và chuyển doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
Không khó để thấy rằng nhiều quyền và trách nhiệm trên về mặt tính chất công việc là tương tự, có thể thực hiện tốt bởi duy nhất một bộ (có thể là Bộ Tài chính). Sẽ có không ít thắc mắc tại sao lại phải phân tách như vậy, và tại sao lại phải cần hai bộ thực hiện những công việc này? Việc phân tách này tạo cảm giác rằng chia sẻ quyền hạn và trách nhiệm nhằm mục đích để “có việc mà làm”, có cớ để tồn tại mới là động cơ chính. Và rõ ràng là nếu xét từ góc độ tinh giản bộ máy thì tồn tại này cần được khắc phục ngay.
Đã phân công, phân quyền, vẫn cứ dồn lên Thủ tướng
Điều 6 Nghị định 10 quy định hàng loạt quyền và trách nhiệm của Thủ tướng trong việc thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước. Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ thì hiển nhiên là Thủ tướng có quyền và trách nhiệm cao nhất trong lĩnh vực này. Tuy vậy, điều làm cho người ta “băn khoăn” là mới chỉ trong lĩnh vực này thôi mà Thủ tướng đã phải xét duyệt đủ loại đệ trình, đề nghị của các bộ tham mưu để ký ban hành, quyết định thực thi.
Thay vào đó, vì đã có sự phân công, phân quyền rõ ràng cho từng bộ, cơ quan chức năng, nên lẽ ra chỉ cần quy định Thủ tướng ủy quyền cho các cơ quan tham mưu này ban hành và thực hiện các chức năng liên quan đến việc thực hiện quyền và trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước. Nếu không, những chuyện “con con” như việc đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn với lượng vốn ít ỏi (ví dụ, 50 tỉ đồng) mà Thủ tướng cũng phải đọc và ký duyệt hồ sơ đề nghị thành lập do cơ quan đại diện chủ sở hữu lập ra thì thật là...
UBQLVNN vẫn không được tự quyết
Liên quan đến phần trên, tuy UBQLVNN còn được gọi là “siêu ủy ban” bởi tầm vóc và quyền năng của nó trên lý thuyết (ít nhất là sự độc lập với các bộ và các cơ quan chức năng trong việc ra quyết định), nhưng thực tế ủy ban này có vẻ như không có mấy thực quyền với các doanh nghiệp nó quản lý. Ví dụ với SCIC, một doanh nghiệp được đặt dưới sự quản lý của UBQLVNN, việc bổ nhiệm Tổng giám đốc SCIC vẫn phải trải qua quá trình phối hợp với Bộ Nội vụ và “sau khi có ý kiến thống nhất của tập thể Ban cán sự Đảng Chính phủ” (rồi trình Thủ tướng bổ nhiệm).
Chưa hết, UBQLVNN vẫn phải “đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền trình Chính phủ: Ban hành, sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập giao ủy ban làm đại diện chủ sở hữu theo quy định của Chính phủ; ban hành, sửa đổi, bổ sung quy chế quản lý tài chính của tập đoàn Dầu khí Việt Nam và tập đoàn Điện lực Việt Nam”.
Như vậy, có thể nói việc UBQLVNN vẫn phải “xin ý kiến” của cơ quan này, “được sự thống nhất” của cơ quan kia cho những vấn đề thuộc phạm vi quản lý của mình đã cho thấy chủ trương thành lập UBQLVNN nói riêng và chủ trương tinh gọn và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét lại để có hướng khắc phục triệt để.

1 comment:

  1. Công ty dịch thuật miền trung - MIDtrans có Giấy phép kinh doanh số 3101023866 cấp ngày 9/12/2016 là đơn vị chuyên cung cấp dịch vụ dịch thuật, phiên dịch dành các cá nhân, hệ thống thương hiệu Dịch thuật sài gòn 247 Dịch thuật chuyên nghiệp Vietnamese translation dịch thuật, phiên dịch sài gòn Dịch thuật Đà Nẵng . Dịch thuật MIDtrans tự hào với đội ngũ lãnh đạo với niềm đam mê, khát khao vươn tầm cao trong lĩnh vực dịch thuật, đội ngũ nhân sự cống hiến và luôn sẵn sàng cháy hết mình. Chúng tôi phục vụ từ sự tậm tâm và cố gắng từ trái tim những người dịch giả.Tự hào là công ty cung cấp dịch thuật chuyên ngành hàng đầu với các đối tác lớn tại Việt nam trong các chuyên ngành hẹp như: y dược (bao gồm bệnh lý), xây dựng (kiến trúc), hóa chất, thủy nhiệt điện, ngân hàng, tài chính, kế toán Hotline: 0947688883. Rất hân hạnh được phục vụ quý khách

    ReplyDelete

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).